Vào một ngày cuối năm 1959 hoặc 1960 - không rõ ngày nào trong các tài liệu được giải mật - một biệt đội gồm bốn nhân viên CIA đã làm việc thâu đêm để bắt cóc một con tàu không gian Lunik của Liên Xô, tháo ra thành từng mảnh ngay bên trong khoang chứa của nó. Họ chụp từng chi tiết và ghi chú tất cả các kết cấu, sau đó lắp ráp lại toàn toàn bộ con tàu mà không để lại một dấu vết nào. Đó là một điệp vụ ngoạn mục trong những năm đầu của cuộc chạy đua vũ trụ. Nhằm cân bằng sân chơi giữa hai cường quốc quốc tế, phi vụ này có nguy cơ biến chiến tranh lạnh trở nên nóng bỏng.

Vệ tinh Luna 1 của Liên Xô. Ảnh: NASA.

Vào ngày 2 tháng 1 năm 1959, Liên bang Xô Viết bắt đầu chương trình Luna của mình, thường được gọi là Lunik bởi các phương tiện truyền thông phương Tây, bằng việc phóng tàu Luna 1. Tàu vũ trụ đầu tiên này hụt mục tiêu Mặt Trăng, nhưng thế hệ tiếp theo Luna 2 đã trúng đích và trở thành phi thuyền đầu tiên chạm vào bề mặt Mặt Trăng vào tháng Chín năm đó. Một tháng sau ngày 7 tháng 10, Luna 3 đã gửi về những hình ảnh đầu tiên trong lịch sử về vùng bên kia của Mặt trăng. Đó là một năm tuyệt vời cho Liên Xô trên Mặt Trăng, trong khi Hoa Kỳ chỉ thu về các sứ mệnh thất bại. Ảnh hưởng này, ngoài việc giáng một đòn vào tinh thần quốc gia, còn gây nên sự khủng hoảng đối với tâm lý người Mỹ. Cho dù các sứ mệnh này có thú vị đến đâu chăng nữa đối với những người hâm mộ không gian, chúng mang theo một thực tế đáng sợ rằng kẻ thù đã có những động cơ lớn hơn và công nghệ tiên tiến hơn.

Sự chênh lệch giữa công nghệ của Mỹ và sức mạnh của Xô Viết đã dẫn đến một chương trình tình báo do CIA điều hành. Bằng cách nghiên cứu các tàu vũ trụ và sứ mệnh không gian của Liên Xô, cơ quan này hy vọng không chỉ dự đoán được các vụ phóng tàu và tác động của chúng tới công chúng, mà còn điều chỉnh lịch trình phóng của Mỹ để có thể bắt kịp với kẻ thù. Thậm chí chỉ là với các các phỏng đoán về kế hoạch của Liên Xô cũng sẽ giúp Hoa Kỳ biết nơi nào cần được tập trung nỗ lực để hy vọng vượt mặt Liên Xô về công nghệ vũ trụ. Nó sẽ hữu ích cho các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ biết cách đối đầu với thiết bị vũ trang của Liên Xô trong tình huống tấn công quân sự. Và các thông tin tình báo này cũng sẽ giúp các nhà lãnh đạo Mỹ chuẩn bị tốt hơn để đối phó với các mối đe dọa mới từ Liên Xô nếu có xảy ra.

Nỗ lực tình báo này tập trung vào những gì đã sẵn có từ trước. Cụ thể là tình báo điện tử, theo dõi viễn thám và chặn bắt dữ liệu truyền xuống để có được một sự hiểu biết toàn diện về các sứ mệnh của Liên Xô. Nhưng điều này không phải là không có những thách thức của nó. Các nhân viên Mỹ phải tiên liệu giờ phóng để sẵn sàng đúng giờ và sau đó họ buộc phải sàng lọc thông tin viễn thám mà không biết các giá trị dữ liệu được gán cho các kênh hoặc các phép đo cơ sở. Phân tích sau chuyến bay là một yếu tố quan trọng khác của chương trình tình báo này. Việc thu thập đầy đủ nhất có thể các dữ liệu về trần cao độ của phi thuyền, thân mục tiêu và địa điểm hạ cánh của tàu vũ trụ khi kết thúc nhiệm vụ giúp ngoại suy dữ liệu về kích thước và công suất của các động cơ phóng này. Nhưng tất cả điều này chỉ là một phần của câu đố, và bởi vì mỗi nhiệm vụ là khác nhau, mỗi cái giống như một "chớp lửa mới trên bầu trời" đòi hỏi một nỗ lực mới và giàu sức tưởng tượng để tìm hiểu những gì đã thực sự xảy ra. Và không nỗ lực tình báo nào táo bạo và siêu tưởng hơn là quyết định bắt cóc một tầng trên của Lunik để thực sự hiểu được tàu vũ trụ này.

Vào lúc nào đó giữa cuối năm 1959 và 1960, Liên Xô đã đi lưu diễn một số quốc gia để triển lãm về thành tựu kinh tế và công nghiệp của mình. Trong số các hiện vật đó có vệ tinh Sputnik và một tầng trên của Lunik có chứa trọng khoang tải, bao gồm cả phần cửa sổ nhìn vào bên trong cắt vào phía mũi của Lunik. Ban đầu nhiều người trong CIA cho rằng Lunik trong chuyến đi chỉ là một mô hình, nhưng một số nhà phân tích nghi ngờ rằng Liên Xô có đủ tự hào về con tàu vũ trụ này để mang hàng thật đi lưu diễn. Những nghi ngờ này đã được khẳng định khi các nhân viên tình báo của CIA thu xếp được việc truy cập không giới hạn vào tàu vũ trụ một đêm sau khi cuộc triển lãm kết thúc. Họ nhận ra đó không phải là một mô hình. Đó là một vật phẩm sản xuất thật sự. Các nhân viên thu thập được những gì có thể trong 24 giờ nhưng họ nóng lòng muốn có được một cái nhìn tốt hơn. Họ muốn vào bên trong Lunik.

Hình vẽ bố trí bên trong Lunik trong một báo cáo của CIA năm 1961. Ảnh: CIA.

Điều này nói thì dễ hơn làm. Lunik luôn được bảo vệ nghiêm ngặt, thường là bằng một đội quân thường trú. Vì vậy khả năng để kiểm tra nó trước hoặc sau khi triển lãm đóng cửa đã được loại trừ. Nhưng Lunik phải di chuyển trên đường, đồng nghĩa với việc nó có thể được "mượn" trong chuỗi vận chuyển nếu có một mắt xích yếu. Và đã có một mắt xích yếu. Tàu vũ trụ, cũng như tất cả các hiện vật khác của cuộc triển lãm, được vận chuyển trong một thùng chứa trên một chiếc xe tải để đến được sân ga đường sắt, nơi nó được tải lên một toa tàu và chuyển đến thành phố kế tiếp. Tại sân đường sắt, một người bảo vệ ghi lại từng cái thùng. Thứ mà người bảo vệ này không có là danh sách hàng hóa và thời gian giao hàng dự kiến ​​cho mỗi thùng. CIA lên một kế hoạch để ăn cắp Lunik trong một đêm và trả lại nó ở ga xe lửa vào buổi sáng kế tiếp trước khi nó tiếp tục hành trình của mình đến thành phố tiếp theo.

Cuối cùng, đêm định mệnh cũng đã đến khi điệp viên CIA đưa kế hoạch của họ vào hành động. Họ sắp xếp để Lunik nằm trong chiếc xe tải cuối cùng được mang ra khỏi phòng triển lãm. Cuối cùng nó cũng ra, và bám đuôi theo sau nó là các điệp viên CIA mặc thường phục, ngụy trang như những người dân địa phương, để phòng ngừa đội quân hộ tống của Liên Xô. Nhưng đội lính canh Liên Xô này chẳng bao giờ đến. Biết chắc ràng đường biên an toàn đã chắc chắn, CIA dừng xe tải ở ngã rẽ cuối cùng trước ga xe lửa, hộ tống tài xế đến một khách sạn, che xe tải bằng một tấm bạt, sau đó lái nó đến một bãi phế liệu gần đó đã được chọn từ đêm nhờ những bức tường cao mười mét xung quanh. 

Tại sân đường sắt, người bảo vệ ghi chú những cái thùng đến và về nhà khi anh ta cho rằng cái thùng cuối cùng đã đến. Nhiều nhân viên của CIA đã theo đuôi anh ta suốt đêm để đảm bảo anh ta không quay lại làm việc sớm hơn thường lệ.

Quay trở lại sân bãi phế liệu, biệt đội CIA đã đưa chiếc xe tải vào một con hẻm hẹp, đóng một cánh cổng, rồi đóng băng. Họ chờ đợi suốt nửa giờ đồng hồ để chắc chắn rằng họ không bị theo dõi. Tự tin rằng họ không bị nhìn thấy, cuối cùng họ cũng hướng sự chú ý đến món hàng của họ. Họ đã nghiên cứu cái thùng và biết rằng hai bên được gắn với nhau từ bên trong, khiến nắp thùng là điểm tiếp cận duy nhất của họ. Hai đặc vụ bắt đầu làm việc tháo nắp thùng mà không để lại bất kỳ dấu vết nào trên tấm ván gỗ - may mắn là cái thùng đã được mở ra nhiều lần khiến tấm ván đã trở nên không còn như mới nữa — trong khi hai đặc vụ khác chuẩn bị các thiết bị chụp ảnh.

Với mái thùng được gỡ, những người đàn ông thấy rằng Lunik chiếm gần trọn không gian của cái thùng; họ sẽ không thể đi bộ từ đầu này đến đầu kia. Vì vậy, họ chia nhau để chinh phục, hai người làm việc phần mũi và hai người ở phần đuôi. Họ đi xuống vớ bằng thang dây và bắt đầu tháo dỡ Lunik với ánh đèn pin. Họ chụp đủ một cuộn phim với các nhãn hiệu trên ăng-ten của tàu vũ trụ và gửi nó ra để xử lý nhằm đảm bảo rằng các camera đang hoạt động tốt. Thông tin báo lại từ bên ngoài rằng những hình ảnh chụp được hoàn toàn rõ ràng.

Những người ở phần đuôi tháo nắp đế để nghiên cứu khu vực động cơ. Mặc dù động cơ đã được tháo mất, các giá đỡ lắp đặt, bình nhiên liệu và bình chứa oxy hóa vẫn còn nằm lại, giúp cho các chuyên gia hiểu được động cơ lớn và mạnh mẽ như thế nào. Ở đầu mũi, họ phát hiện ra có một thanh chạy suốt thân tàu vũ trụ để làm gá đỡ cho tải trung tâm cố định tại chỗ ở phía trước bởi một ổ cắm điện bốn chiều hoạt động như một ốc vít vào thanh. Nó được bao phủ bởi một miếng nhựa có con dấu bảo an của Liên Xô. Đó là cách duy nhất của họ có thể tiếp cận, nhưng nếu con dấu bị thiếu lính canh của Liên Xô sẽ biết ai đó từ bên ngoài đã tiếp cận với với tàu vũ trụ. Không chấp nhận bị khuất phục bởi một miếng nhựa, họ đã kiểm tra với nhân viên CIA bên ngoài rằng con dấu bảo an có thể được sao chép kịp thời để thay thế nó. Đồng nghiệp bên ngoài nói có thể làm được, mang lại cho họ điều kiện cần để cắt nó đi. Con dấu được gửi ra để sao chép trong khi các đặc vụ bắt đầu khám phá bên trong Lunik.

Biệt đội nhỏ làm việc thâu đêm. Khi bình minh đến gần họ bắt đầu ráp các mảnh của Lunik trở lại với nhau, cẩn thận để không để lại dấu vết cho biết có sự tiếp cận. Họ dán con dấu giả, đặt nắp lại trên thùng, và cẩu toàn bộ nó lên xe tải. Người lái xe ban đầu đã trở làm việc vào lúc 5 giờ sáng và chiếc xe tải đã có mặt ở sân đường chờ người bảo vệ khi anh ta trở lại làm việc lúc 7 giờ sáng. Anh ta không nghi ngờ gì, thêm nó vào danh sách của mình, và Lunik đã đi đến thành phố tiếp theo của nó với phần còn lại của cuộc triển lãm. 

Cái nhìn chuyên sâu của CIA về cấu trúc của Lunik cuối cùng cũng đóng một vai trò khá quan trọng. Biết trọng lượng khô và kích thước thật của Lunik cho phép các chuyên gia xác định trọng lượng ướt của nó, điều vô giá đối với các điệp viên theo dõi lần phóng tiếp theo. Với biến số lớn này đã được biết, các chuyên gia có thể ngoại suy lực đẩy thực sự của động cơ phóng phi thuyền này. Và điều này lần lượt cho phép các chuyên gia Mỹ suy ngược lại để xác định khả năng thực sự của Liên Xô với phần cứng hiện tại của họ, và quan trọng hơn là xác định giới hạn tải trọng của công nghệ hiện có của họ. Việc bắt cóc Lunik đã giúp Hoa Kỳ xác định những gì Liên Xô không thể làm mà không có một bước đột phá công nghệ lớn; thông tin này đã giúp lãnh đạo quốc gia và lãnh đạo NASA đặt ra mục tiêu và định dạng chiến lược thời gian để giúp người Mỹ đuổi kịp và cuối cùng vượt qua Liên Xô trong việc chinh phục không gian .

Theo Popular Science ngày 20 tháng 10 năm 2015

Tham khảo

Author: John Hoang
Nghiên cứu sinh ngành Vật lý thiên văn tại Universidad Complutense de Madrid.