Ngày 29/09/1988, NASA đã phóng thành công tàu con thoi Discovery (nhiệm vụ STS-26). Đây là chuyến bay đánh dấu sự trở lại của đội tàu con thoi Hoa Kỳ sau gần 3 năm tạm ngừng hoạt động bởi thảm họa nổ tàu Challenger tháng 1 năm 1986.


Ảnh: Logo của STS-26

STS-26 là chuyến bay vào không gian lần thứ 7 của tàu Discovery (lần thứ 26 của toàn bộ các tàu con thoi NASA). Phi hành đoàn bao gồm 5 người:

Frederick H. Hauck: chỉ huy
Richard O. Covey: phi công
John M. Lounge: chuyên viên kỹ thuật
George D. Nelson: chuyên viên kỹ thuật
David C. Hilmers: chuyên viên kỹ thuật

Nhiệm vụ chính của STS-26 là triển khai 1 vệ tinh thông tin (TDRC-C) lên quỹ đạo. Ngoài ra, phi hành đoàn còn thực hiện thêm 11 thí nghiệm khoa học kỹ thuật. STS-26 kéo dài trong 4 ngày 1 tiếng, tổng cộng tàu Discovery đã bay được quãng đường dài 2 triệu 703 nghìn km.


Ảnh: Phi hành đoàn STS-26

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 29 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_29.htm
[2]Wikipedia, 09/2007. STS-26, http://en.wikipedia.org/wiki/STS-26

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Themisto (Jupiter XVIII) là một vệ tinh rất bé với bán kính trung bình chỉ vào khoảng 4 km, nặng khoảng 6.89x10^14 kg. Vệ tinh này chuyển động một vòng quanh Sao Mộc hết 129 ngày Trái Đất với khoảng cách trung bình đến hành tinh mẹ khoảng 0.05 AU.

Mặc dù được phát hiện từ năm 1975 nhưng các quan sát vào thời điểm đó chưa cho phép tính toán chính xác quỹ đạo của Themisto và sau đó 1 thời gian, các nhà thiên văn gần như đã mất «liên lạc» với nó. Năm 2000, nhóm 4 nhà thiên văn Sheppard, Jewitt, Fernández và Magnier đã tìm lại được vệ tinh này.


Vệ tinh Themisto (ảnh minh họa dựa trên các kết quả quan sát)

Tài liệu tham khảo:
[1]Mark Wade, 1997-2007. Encyclopedia Astronautica, This Day in Space History, September 30, http://astronautix.com/thisday/sepber30.htm
[2]Wikipedia, 09/2008. Themisto (moon), http://en.wikipedia.org/wiki/Themisto_(moon)

Hero_Zeratul
ttvnol.com

George Carruthers sinh ra ở thành phố Cincinnati, bang Ohio, Hoa Kỳ. Sau khi cha ông mất, gia đình ông rời đến Chicago, bang Illinois. Sau khi tốt nghiệp đại học Illinois chuyên ngành kỹ sư hàng không năm 1961, Carruthers chuyển sang học thạc sĩ chuyên ngành vật lý hạt nhân. Từ năm 1962, ông quay lại làm nghiên cứu sinh về lĩnh vực hàng không và đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ.

Năm 1964, Carruthers bắt đầu làm việc tại phòng thí nghiệm Hải quân Hoa Kỳ. Lĩnh vực nghiên cứu của ông tập trung chủ yếu vào các quan sát thiên văn tại dải sóng tử ngoại. Năm 1970, ông đã tiến hành những nghiên cứu đầu tiên về phân tử hydro trong vũ trụ. Carruthers đã phát minh ra nhiều thiết bị quan sát dùng trong khoa học không gian. Năm 1972, ông chế tạo ra thiết bị quan sát và chụp ảnh quang phổ tử ngoại để phi hành đoàn Apollo-16 mang theo và vận hành trên Mặt Trăng. Năm 1986, ông đã sáng chế ra thiết bị ghi lại những bức ảnh tử ngoại của sao chổi Halley.


Ảnh: George Robert Carruthers

Carruthers còn có nhiều đóng góp trong việc quảng bá khoa học cho thế hệ trẻ. Trong những năm 1980, ông đã xây dựng một chương trình giáo dục cho phép các học sinh trung học có thể đến làm việc cùng các nhà khoa học tại phòng thí nghiệm Hải quân trong dịp nghỉ hè. Ông đã tham gia việc biên soạn các cuốn băng video về khoa học Trái Đất và Không gian.

Với những cống hiến và phát minh của mình, Carruthers đã nhận được nhiều giải thưởng của NASA, của hội Thiên văn Hoa Kỳ, ... Ông là thành viên của nhiều hiệp hội, tổ chức khoa học danh tiếng. Hiện nay, ông vẫn làm việc tại phòng thí nghiệm Hải quân, đồng thời tham gia giảng dạy tại khoa Vật lý và Thiên văn trường đại học Howard.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. October 01 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/10/10_01.htm
[2]Wikipedia, 07/2007. George Robert Carruthers, http://en.wikipedia.org/wiki/George_r._carruthers

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Robert Trumpler sinh ra ở Zürich, Thụy Sĩ. Sau 2 năm học chuyên ngành toán, thiên văn và vật lý tại đại học Zurich, ông chuyển đến học tại Gottingen (Đức) và đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khi mới 24 tuổi (năm 1910). Thế chiến thứ nhất nổ ra, năm 1915, ông di cư đến Hoa Kỳ và làm việc tại đài thiên văn Allegheny. Sau đó, ông chuyển đến đài thiên văn Lick.

Năm 1922, Trumpler cùng với giám đốc đài thiên văn Lick là W. W. Campell đã tiến hành quan sát hiện tượng nhật thực toàn phần tại Wallal, tây Australia. Campell và Trumpler đã thu được giá trị về độ lệch giữa vị trí thực tế và vị trí biểu kiến của một ngôi sao là : 1.75 +/- 0.09 giây. (Giá trị tính được theo thuyết Tương Đối Tổng Quát của Einstein là 1.75 giây. Năm 1919, độ lệch đo được của đoàn quan sát do Eddington dẫn đầu là 1.61 +/- 0.3 giây).


Ảnh: Robert Julius Trumpler (02/10/1886 – 10/09/1956)

Lĩnh vực nghiên cứu của Trumpler tập trung chủ yếu vào các cụm sao hình cầu (globular cluster). Ông đã nhận thấy rằng độ sáng quan sát được của các cụm sao hình cầu nhỏ hơn các giá trị tính toán được. Trumpler đã đưa ra lời giải thích chính xác cho hiện tượng này, đó là ánh sáng của các ngôi sao đó đã bị các đám bụi trong Ngân Hà hấp thụ một phần (độc lập với Trumpler, nhà vật lý thiên văn Liên Xô Boris Vorontsov Velyaminov cũng đã phát hiện ra hiện tượng này).

Năm 1918, Harlow Shapley đã ước lượng khoảng cách từ Mặt Trời đến trung tâm Ngân Hà vào khoảng 50 nghìn năm ánh sáng. Các nghiên cứu về cụm sao hình cầu của Trumpler đã cho phép hiệu chỉnh lại giá trị trên chỉ còn khoảng 30 nghìn năm ánh sáng (khoảng cách từ Mặt Trời đến trung tâm Ngân Hà hiện nay được ước lượng vào khoảng 26 nghìn năm ánh sáng). Trumpler cũng đã đưa ra phương pháp phân loại các cụm sao mở (open cluster) dựa trên đặc điểm phân bố, khoảng biến đổi về độ trưng và số lượng của các ngôi sao thành viên.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hỏa.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. October 02 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/10/10_02.htm
[2]Wikipedia, 08/2007. Robert Julius Trumpler, http://en.wikipedia.org/wiki/Robert_Julius_Trumpler

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Quá trình chế tạo chiếc gương bắt đầu từ ngày 02/12/1934, Ban đầu, 20 tấn thủy tinh Pyrex nóng chảy có nhiệt độ 2700 Fahrenheit (~ 1482 độ C) đã được đổ vào một khuôn bằng gốm. Trong 11 tháng tiếp theo, nhiệt độ của phôi gương được giảm rất chậm, từ 1 đến 2 độ mỗi ngày. Quá trình mài và mạ gương được bắt đầu từ tháng 4 năm 1936.

Ý tưởng chế tạo 1 chiếc kính thiên văn phản xạ đường kính 200 inch đã được George Ellery Hale đưa ra vào tháng 4 năm 1928. Dự án này đã được quỹ Rockefeller tài trợ với tổng trị giá là 6 triệu USD (tính theo thời giá lúc bấy giờ) bao gồm việc chế tạo kính, đài thiên văn và các thiết bị phụ trợ kèm theo. Đài thiên văn được xây dựng ở đỉnh núi Palomar, thuộc quyền sử dụng của học viện Công nghệ California. Do ảnh hưởng của Thế chiến II, cho đến năm 1948, dự án mới hoàn thành.

Chiếc kính thiên văn được đặt theo tên người sáng lập ra dự án – George Ellery Hale. Edwin Powell Hubble là người sử dụng chiếc kính này (ngày 01/02/1949). Kính thiên văn Hale giữ kỷ lục về đường kính gương cầu trong vòng 28 năm, từ năm 1948 cho đến khi chiếc kính BTA-6 (đường kính 6 m) của Liên Xô được chế tạo xong.


Ảnh: Chiếc gương 200 inch trong quá trình vận chuyển


Ảnh: Kính thiên văn Hale


Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. October 03 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/10/10_03.htm
[1]National Park Service, 11/2001. Palomar Observatory 200-inch Reflector, http://www.nps.gov/history/history/online_books/butowsky5/astro4e.htm

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ngày 03/10/1947, chiếc gương cầu đường kính 200 inch (khoảng 5 m) của kính thiên văn Hale đã hoàn thành sau gần 13 năm chế tạo.



Ảnh: Chiếc gương 200 inch trong quá trình vận chuyển


Quá trình chế tạo chiếc gương bắt đầu từ ngày 02/12/1934, Ban đầu, 20 tấn thủy tinh Pyrex nóng chảy có nhiệt độ 2700 Fahrenheit (~ 1482 độ C) đã được đổ vào một khuôn bằng gốm. Trong 11 tháng tiếp theo, nhiệt độ của phôi gương được giảm rất chậm, từ 1 đến 2 độ mỗi ngày. Quá trình mài và mạ gương được bắt đầu từ tháng 4 năm 1936.

Ý tưởng chế tạo 1 chiếc kính thiên văn phản xạ đường kính 200 inch đã được George Ellery Hale đưa ra vào tháng 4 năm 1928. Dự án này đã được quỹ Rockefeller tài trợ với tổng trị giá là 6 triệu USD (tính theo thời giá lúc bấy giờ) bao gồm việc chế tạo kính, đài thiên văn và các thiết bị phụ trợ kèm theo. Đài thiên văn được xây dựng ở đỉnh núi Palomar, thuộc quyền sử dụng của học viện Công nghệ California. Do ảnh hưởng của Thế chiến II, cho đến năm 1948, dự án mới hoàn thành.

Chiếc kính thiên văn được đặt theo tên người sáng lập ra dự án – George Ellery Hale. Edwin Powell Hubble là người sử dụng chiếc kính này (ngày 01/02/1949). Kính thiên văn Hale giữ kỷ lục về đường kính gương cầu trong vòng 28 năm, từ năm 1948 cho đến khi chiếc kính BTA-6 (đường kính 6 m) của Liên Xô được chế tạo xong.



Ảnh: Kính thiên văn Hale


Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. October 03 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/10/10_03.htm
[1]National Park Service, 11/2001. Palomar Observatory 200-inch Reflector, http://www.nps.gov/history/history/online_books/butowsky5/astro4e.htm

Hai năm sau thành công của Spunik-1, Liên Xô phóng về phía Mặt Trăng tàu Luna-3. Đây là tàu thứ 7 trong số các tàu vũ trụ của Liên Xô có nhiệm vụ thăm dò Mặt Trăng. Trong 6 lần phóng trước, Liên Xô chỉ thành công 2 lần, 4 lần khác đều gặp trục trặc, tàu vũ trụ bị phá huỷ hoặc không rời khỏi được bầu khí quyển Trái Đất.


Luna-3

Được phóng lên không gian bằng tên lửa đẩy R-7 8K72, tàu thăm dò mất khoảng khoảng 2 ngày để tiếp cận Mặt Trăng. 14:16 UT ngày 06/10, Luna-3 bay lướt qua Mặt Trăng với khoảng cách gần nhất là 6200 km rồi sau đó tiếp tục vượt qua phía sau của thiên thể này. Ngày 07/10, thiết bị cảm ứng trên tàu vũ trụ phát hiện ánh sáng Mặt Trời phản chiếu tại nửa xa Trái Đất của Mặt Trăng, Luna-3 bắt đầu quá trình chụp ảnh. Theo kế hoạch, tàu vũ trụ chụp 29 bức ảnh trong vòng 40 phút với khoảng cách gần nhất là 63500 km xa nhất là 66700 km, bao phủ khoảng 70% diện tích nửa bên kia của Mặt Trăng.

Sau quá trình chụp ảnh, Luna-3 tiếp tục bay vòng qua Mặt Trăng và hướng về Trái Đất. Qúa trình truyền các bức ảnh về Trái Đất đã không hoàn toàn thành công. Trạm điều khiển dưới mặt đất chỉ nhận được 17 bức với chất lượng ảnh không cao. Tuy nhiên, đây thực sự là một cột mốc quan trọng trong lịch sử khoa học. Lần đầu tiên con người nhìn được bề mặt bị che khuất của Mặt Trăng.

Ngày 22/10, trạm điều khiển mất liên lạc với tàu vũ trụ. Luna-3 được cho rằng đã rơi vào và bị phá huỷ trong bầu khí quyển Trái Đất vào khoảng tháng 3 hoặc tháng 4 năm 1960.


Tem Liên Xô phát hành năm 1959 với tàu Luna-3 và bức ảnh chụp nửa bị che khuất của Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]Mark Wade, 1997-2007. Encyclopedia Astronautica, This Day in Space History, October 22, http://astronautix.com/thisday/octber04.htm
[2]Wikipedia, 09/2008. Luna 3, http://en.wikipedia.org/wiki/Luna_3

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Robert Hutchings Goddard (05/10/1882 - 10/08/1945) sinh ra tại Worcester bang Massachusetts, đông bắc Hoa Kỳ. Khi còn thiếu niên, ông rất thích mày mò, tìm hiểu về khoa học thường thức. Năm 16 tuổi, Goddard bắt đầu yêu thích khám phá không gian sau khi đọc tác phẩm « Cuộc chiến giữa các thế giới » (The War of the Worlds) của H.G Wells. Năm 17 tuổi, trong một lần thả trí tưởng tượng về việc chế tạo một tàu vũ trụ chinh phục Sao Hoả, Goddard quyết định sẽ theo đuổi công việc chế tạo các thiết bị thám hiểm không gian.


Robert Hutchings Goddard (05/10/1882 - 10/08/1945)

Vì lý do sức khoẻ, Goddard bi chậm hơn các bạn đồng lứa 2 năm học. Ông đã giành nhiều thời gian tự học bằng cách mượn sách ở các thư viện cũng như của một số nhà vật lý. Mãi đến năm 18 tuổi, Goddard mới bắt đầu học trung học phổ thông. Năm 1904, Goddard thay mặt lớp phát biểu trong lễ tốt nghiệp. Ông đã nói một câu rất nổi tiếng « It is difficult to say what is impossible, for the dream of yesterday is the hope of today and the reality of tomorrow » (Thật là khó để có thể kết luận cái gì là không thể, vì mơ ước của ngày hôm qua chính là hy vọng của ngày hôm nay và trở thành hiện thực của ngày mai).

Sau khi tốt nghiệp, Goddard tiếp tục qúa trình học tập tại học viện Bách Khoa Worcester. Khả năng cũng như động lực học tập của ông đã được trưởng khoa Vật lý của trường để ý. Ông được nhận vào làm trợ lý tại phòng thí nghiệm cũng như trợ giảng. Sau khi tốt nghiệp học viện Worcester năm 1908, Goddard tiếp tục học thạc sĩ và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ năm 1911 tại đại học Clark. Từ năm 1912, ông làm nghiên cứu viên tại đại học Princeton.

Ngay từ khi còn là sinh viên đại học, Goddard đã có công trình tìm hiểu về kỹ thuật ổn định các máy bay. Năm 1909, ông bắt đầu có những nghiên cứu về tên lửa đẩy sử dụng nhiên liệu lỏng. Goddard tập trung vào phương pháp nâng cao hiệu suất của động cơ tên lửa, cố gắng tìm ra cách tiếp cận mới thay cho cách truyền thống sử dụng nhiên liệu rắn. Ông đề xuất ý tưởng sử dụng hỗn hợp hydro và oxy ở dạng lỏng với dự đoán hiệu suất của động cơ sẽ đạt được vào khoảng 50%.

Năm 1913, Goddard bị bệnh lao rất nặng và ông phải dừng công việc ở Princeton, trở về Worcester chữa bệnh. Trong giai đoạn an dưỡng ở quê nhà, Goddard đã bắt đầu triển khai và thực hiện những ý tưởng về tên lửa đẩy. Năm 1914, ông đã có 2 bằng phát minh về thiết kế tên lửa nhiều tầng và nhiên liệu lỏng sử dụng trong tên lửa. Hai bằng phát minh của Goddard đánh dấu những cột mốc quan trọng trong giai đoạn đầu của hàng không vũ trụ.

Mùa thu năm 1914, sức khoẻ của Goddard đã phục hồi dần và ông tiếp tục đi dạy bán thời gian tại đại học Clark. Cho đến năm 1916, chi phí cho các thí nghiệm về tên lửa đã vượt quá khả năng của Goddard và ông phải tìm các nguồn tài trợ. Học viện Smithsonian đã tài trợ cho ông tổng cộng 5000$ trong 5 năm và học viện Bách Khoa Worcester cho phép ông sử dụng phòng thí nghiệm về từ trường. Trong những năm 1916 - 1917, Goddard bắt đầu thực hiện các thí nghiệm với động cơ đẩy sử dụng luồng ion (ion thruster) với suy nghĩ động cơ dạng này có thể hoạt động trong môi trường gần như là chân không tại những động cao lớn. Bên cạnh đó, Goddard cũng đã có những kết quả đầu tiên trong việc ứng dụng công nghệ tên lửa vào lĩnh vực quân sự. Ông đã chế tạo bản thử nghiệm của tên lửa vác vai đầu tiên. Tuy nhiên, do phát minh này ra đời vào những ngày cuối của Thế chiến thứ nhất nên nó chưa được ứng dụng rộng rãi và Goddard cũng không tiếp tục đi sâu vào lĩnh vực này nữa. Sau này, phát minh của Goddard tiếp tục được những người khác phát triển trở thành súng chống tăng cá nhân (bazooka) sử dụng trong Thế chiến thứ hai.

Năm 1919, viện Smithsonian công bố cuốn sách tuyển tập các công trình của Goddard dưới tiêu đề : « Method of Reaching Extreme Altitudes » (Phương pháp tiến hành việc bay lên các độ cao cực lớn). Cuốn sách đã trình bày lý thuyết toán của Goddard về các động cơ tên lửa, các thực nghiệm do ông đã tiến hành với tên lửa nhiên liệu rắn, các khả năng ứng dụng của tên lửa trong việc nghiên cứu Trái Đất cũng như khoảng không gian vũ trụ. Tác phẩm này đã khẳng định Goddard là một trong 3 người khai sinh ra hàng không vũ trụ (Tsiolkovsky, Oberth, Goddard)

Cuốn sách đã nhận được sự quan tâm rộng rãi của dư luận, tuy nhiên, tiếc rằng trong giai đoạn đầu, đó lại là những lời bình phẩm theo hướng tiêu cực. Mặc dù việc chinh phục Mặt Trăng chỉ là một phần rất nhỏ và được Goddard trình bày dưới dạng ý tưởng và các đề xuất, nhưng một số tờ báo đã tập trung chỉ trích, chế diễu nó. Điều này đã dẫn đến việc dư luận xã hội coi toàn bộ công trình của Goddard là sai lầm hoặc mơ hồ, thiếu sức thuyết phục. Hậu quả là sau đó Goddard đã trở nên rất khép kín, ông thường tiến hành các thí nghiệm một mình hoặc chỉ trình bày các quan điểm, ý tưởng trong 1 nhóm nhỏ các đồng nghiệp.

Trong một bài viết gửi viện Smithsonian tháng 3 năm 1920, Goddard đã thảo luận về các vấn đề:
+ Chụp ảnh Mặt Trăng và các hành tinh bằng tàu thám hiểm tự động kiểu bay qua (fly-by)
+ Gửi thông điệp đến các nên văn minh khác bằng các bản kim loại (gắn trên tàu không gian),
+ Sử dụng năng lượng mặt trời trong không gian
+ Chế tạo động cơ phản lực dựa trên luồng ion.
+ Thiết kế khiên chắn nhiệt (heat shield)
Có thể thấy rằng, ngày nay, những ý tưởng trên của Goddard đều đã trở thành hiện thực. Tiếc rằng vào thời điểm đó, chúng đã không được công bố rộng rãi ra cộng đồng.

Từ tháng 9 năm 1921, Goddard bắt đầu các thí nghiệm với động cơ tên lửa sử dụng nhiên liệu lỏng. Ngày 16/03/1926, ông đã phóng thành công tên lửa đầu tiên tại Auburn, Massachusetts. Mặc dù tên lửa chỉ bay cao khoảng 7 mét trong vòng 2.5 giây nhưng Goddard đã chứng minh được tính khả thi của động cơ phản lực sử dụng nhiên liệu lỏng. Goddard tiếp tục tiến hành các nghiên cứu, cải tiến và thực nghiệm với những mẫu tên lửa tiếp theo. Năm 1929, báo chí và dư luận bắt đầu lại quan tâm đến công việc của Goddard. Đặc biệt Goddard đã được hỗ trợ rất lớn từ Charles Lingberh, một người tiên phong trong việc chế tạo máy bay và quảng bá ngành hàng không. Với sự vận động của Lingberh, Goddard đã nhận được 1 khoản tài trợ khá lớn cho các nghiên cứu của mình.


Goddard bên bệ phóng quả tên lửa sử dụng nhiên liệu lỏng đầu tiên

Năm 1930, Goddard đến Roswell, bang New Mexico để tiếp tục công việc của mình, tránh xa sự tò mò cũng như dư luận xã hội. Thành công xen lẫn với thất bại, các tên lửa của Goddard ngày càng hoàn thiện hơn. Năm 1935, ông đã phóng thành công tên lửa kiểu A-5 lên tới độ cao 1.46 km, vượt qua được tốc độ âm thanh. Năm 1937, tên lửa L-13 của Goddard đã bay lên độ cao 2.7 km. Tuy nhiên, đây cũng là độ cao lớn nhất mà các tên lửa của Goddard đạt được, các nỗ lực về sau của ông về mặt kích thước hoặc cải tiến thiết kế đều không thu được thành công.

Goddard đã trình bày các kết quả của mình với quân đội Hoa Kỳ, tuy nhiên ông không thu được sự quan tâm đúng mực vì giới quân sự trong nước vẫn chưa để ý đến các ứng dụng của tên lửa. Tuy nhiên, người Đức lại để ý đến các công trình của ông thông qua nhiều kênh thông tin, cả chính thức (báo chí, ...) lẫn gián điệp. Đây có thể là những nguồn thông tin tham khảo, hoặc cung cấp ý tưởng cho việc phát triển các thế hệ tên lửa V-1, V-2 của Đức quốc xã sau này. Năm 1963, Wernher von Braun đã viết : « Các tên lửa của Goddard, mặc dù còn rất thô sơ nếu so với những tiêu chuẩn hiện đại, nhưng đó thật sự là những bước tiến rực rỡ, trong đó ta có thể thấy rất nhiều đặc điểm của các tên lửa, tàu vũ trụ ngày nay ».

Năm 1945, Goddard qua đời vì bệnh ung thư cuống họng. Cùng với Konstantin Tsiolkovsky của Liên Xô và Hermann J. Oberth của Đức, R. H. Goddard được người đời sau vinh danh là những người khai sinh ra ngành hàng không vũ trụ. Tên ông được đặt cho nhiều trường học, công trình trên khắp nước Mỹ. Năm 1959, NASA thành lập trung tâm không gian đầu tiên với tên gọi Goddard Space Flight Center. Tên ông cũng đã được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo
[1]Today in Science History, 1999 - 2008. October 5 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/10/10_05.htm
[2]Wikipedia, 10/2008. Robert H. Goddard, http://en.wikipedia.org/wiki/Robert_H._Goddard

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ulysses là tàu vũ trụ được NASA và ESA hợp tác chế tạo với mục đích là thám hiểm Mặt Trời ở những vùng có vĩ độ cao. Trước Ulysses, các tàu vũ trụ đều chỉ chuyển động gần mặt phẳng Hoàng đạo, do đó các quan sát từ Trái Đất cũng như của các tàu thám hiểm đều chỉ được tiến hành với góc nhìn (đối với Mặt Trời) từ vị trí có vĩ độ thấp. Nếu trực tiếp phóng tàu vũ trụ từ Trái Đất thì tên lửa đẩy sẽ phải rất khổng lồ mới có thể khiến tàu vũ trụ có độ nghiêng lớn so với mặt phẳng Hoàng đạo. Tuy nhiên, điều này cũng có thể đạt được với sự gia tốc nhờ trọng trường của Sao Mộc.


Tàu vũ trụ Ulysses

Ngày 06/10, tàu con thoi Discovery được phóng lên không gian (nhiệm vụ STS-41). Sau khi lên đến quỹ đạo dự kiến, phi hành đoàn đã phóng Ulysses về phía Sao Mộc. Tàu vũ trụ tiếp tục được gia tốc thêm bởi các tên lửa nhỏ hơn và tiếp cận Sao Mộc trên một quỹ đạo quanh Mặt Trời có độ nghiêng nhỏ so với mặt phẳng Hoàng đạo. Ngày 08/02/1992, Ulysses bay lướt qua hành tinh khí lớn nhất trong hệ Mặt Trời, đường bay của tàu vũ trụ bị bẻ cong xuống phía nam mặt phẳng Hoàng đạo. Kết quả là quỹ đạo mới của Ulysses có điểm cận nhật 1 AU, điểm viễn nhật 5 AU, nghiêng so với mặt phẳng hoàng đạo một góc 80.2 độ.

Ulysses tập trung quan sát vùng cực của Mặt Trời trong 2 giai đoạn: 1994 ?" 1995 và 2000-2001. Ngoài ra, tàu vũ trụ đã khảo sát các sai chổi Hyakutake (1996), McNaught-Hartley (2004), McNaught (2007). Trong các năm 2003-2004, Ulysses cũng đã tiến hành quan sát Sao Mộc. Với đường bay đặc biệt của mình, Ulysses đã cung cấp cho các nhà khoa học rất nhiều kết quả, khám phá mới, không chỉ về Mặt Trời mà còn về khoảng không gian liên hành tinh.

Ngày 01/07/2008, NASA và ESA chính thức kết thúc nhiệm vụ Ulysses. Tổng cộng thời gian vận hành, sử dụng của tàu vũ trụ là 17 năm 9 tháng, dài gấp 4 lần so với thiết kế ban đầu.


Quỹ đạo bay của Ulysses sau khi gia tốc nhờ Sao Mộc

Tài liệu tham khảo:
[1]Mark Wade, 1997-2007. Encyclopedia Astronautica, This Day in Space History, October 06, http://astronautix.com/thisday/octber06.htm
[2]Wikipedia, 09/2008. Ulysses (spacecraft), http://en.wikipedia.org/wiki/Ulysses_(spacecraft)

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Luna-3 là tàu vũ trụ không người lái thứ 7 thuộc chương trình Luna và là tàu thứ 3 được phóng thành công. Luna-3 được phóng về phía Mặt Trăng ngày 04/10/1959 bằng tên lửa R-7. Ngày 06/10/1959, tàu vũ trụ đã tiếp cận Mặt Trăng ở khoảng cách gần nhất khoảng 6200 km. Theo như kế hoạch đặt ra, Luna-3 tiếp tục bay qua (fly by) Mặt Trăng. Ngày 07/10/1959, Luna-3 đã bay sang phía bị che khuất của Mặt Trăng và bắt đầu quá trình chụp ảnh. 29 bức ảnh đã được chụp trong vòng 40 phút với khoảng cách gần nhất là 63500 km, xa nhất là 66700 km. Dựa trên các bức ảnh này, các nhà khoa học đã xây dựng được bản đồ khoảng 70% bề mặt bị che khuất của Mặt Trăng.


Ảnh: Luna-3

Sau khi bay qua Mặt Trăng, Luna-3 hướng về Trái Đất. Sau 1 số lần thất bại, quá trình truyền dữ liệu đã thực hiện xong vào ngày 18/10. Trạm điều khiển mặt đất mất tín hiệu với Luna-3 vào ngày 22/10. Có 2 giả thiết về sự kết thúc của Luna-3: hoặc là bị đốt cháy trong bầu khí quyển Trái Đất trong thời gian khoảng tháng 3, tháng 4 năm 1960; hoặc là còn tiếp tục chuyển động trên quỹ đạo xung quanh Trái Đất và bị đốt cháy trong khoảng sau năm 1962.


Ảnh: Bức ảnh đầu tiên chụp bề mặt bị che khuất của Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. October 07 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/10/10_07.htm
[2]Wikipedia, 10/2007. Luna 3, http://en.wikipedia.org/wiki/Luna_3

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Hertzsprung sinh ra ở Copenhagen, thủ đô Đan Mạch. Sau khi tốt nghiệp đại học chuyên ngành hóa học, ông đến làm việc tại St. Peterburg. Năm 1901, ông quay trở lại Đan Mạch và bắt đầu chuyển sang thiên văn học. Năm 1909, ông được nhà thiên văn Karl Schwarzchild mời đến làm việc tại Göttingen. Cuối năm đó, cả 2 người đều chuyển đến đài vật lý thiên văn Postdam. Từ năm 1919, ông làm giám đốc đài thiên văn Leiden, Hà Lan và đảm nhiệm chức vụ giám đốc từ năm 1937 cho đến khi nghỉ hưu năm 1946. Quay trở lại Đan Mạch, ông vẫn tiếp tục làm việc cho tận đến những năm cuối đời.


Ảnh: Ejnar Hertzsprung (08/10/1873 – 21/10/1967)

Trong giai đoạn từ năm 1911 đến 1913, cùng với nhà thiên văn học Hoa Kỳ Henry Norris Russell, Hertzsprung đã xây dựng và hoàn thiện biểu đồ biểu diễn sự phụ thuộc lẫn nhau của các yếu tố: cấp sao tuyệt đối, độ trưng, loại và nhiệt độ bề mặt của các ngôi sao. Biểu đồ này đóng vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu sự tiến hóa của các ngôi sao và đã được đặt theo tên 2 tác giả.

Năm 1913, Hertzsprung đã dùng phương pháp thị sai đo được khoảng cách đến 1 số biến tinh Cepheid trong Ngân Hà. Các kết quả của Hertzsprung đã cho phép so sánh và hiệu chỉnh phương pháp xác định khoảng cách dựa vào biến tinh Cepheid do Herietta Swan Leavitt tìm ra (1). Ông đã dùng phương pháp này với các thông số của mình để xác định khoảng cách đến đám mây Magienlan nhỏ (2). Hertzsrpung đã xác định được chuyển động riêng, màu sắc và cấp của hàng nghìn ngôi sao trọng cụm sao Pleiades. Ông cũng đã khảo sát khoảng một ngàn hệ sao đôi quang học và phát hiện ra 2 tiểu hành tinh.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh (asteroid 1693 Hertzsprung) và biểu đồ do ông cùng Russell xây dựng lên.


Ảnh: Biểu đồ Hertzsprung - Russell

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. October 08 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/10/10_08.htm
[2]JST, 2006-02-25. The Bruce Medalists, Ejnar Hertzsprung, http://www.phys-astro.sonoma.edu/BruceMedalists/Hertzsprung/index.html

Ghi chú:

(1) Nhà thiên văn học Hoa Kỳ Henrietta Swan Leavitt đã phát hiện ra một số ngôi sao biến quang có độ trưng tỷ lệ thuận với độ dài chu kỳ. Sau hàng loạt những nghiên cứu, năm 1912, bà đã tìm ra mối liên hệ về độ trưng tuyệt đối và chu kỳ của một số ngôi sao biến quang. Các ngôi sao kiểu này được gọi là các sao biến quang Cepheid. Phát hiện của Leavitt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thiên văn học. Dựa vào việc quan sát chu kỳ của sao biến quang Cepheid, người ta có thể xác định độ trưng tuyệt đối của nó. Dựa trên mối tương quan giữa độ trưng biểu kiến (do quan sát) và độ trưng tuyệt đối (tính ra được), có thể xác định được rất chính xác khoảng cách từ Trái Đất đến ngôi sao

(2) Tham khảo thêm 1 số tài liệu khác, có vẻ như là Hertzsprung đã có những sai sót và khoảng cách ông thu được nhỏ hơn nhiều so với thực tế. Do đó, kết quả của Hertzsprung đã không sớm chấm dứt được cuộc tranh luận về quy mô Ngân Hà trong những năm đầu thế kỷ XX

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

SN-1064 là một sao siêu mới (supernova, sinh ra do sự kết thúc cuộc đời của ngôi sao dưới dạng một vụ nổ) trong dải Ngân Hà, cách Trái Đất khoảng 20 nghìn năm ánh sáng. Trên bầu trời, SN-1064 nằm trong chòm sao Ophiuchus. Cấp sao biểu kiến cực đại SN-1604 đạt được là vào khoảng từ -2.25 đến -2.5. Supernova này đã tỏa sáng trên bầu trời Trái Đất cho đến tháng 3 năm 1606.


Ảnh: Tàn tích SN-1064 (tổng hợp từ kết quả quan sát của các kính Hubble, Chandra và Spitzer

Theo các tài liệu ghi chép lại, SN-1064 được ghi nhận đầu tiên bởi các nhà quan sát tại miền bắc Italia, sau đó là đến các nhà quan sát tại Trung Quốc và Hàn Quốc. Tại Prague, Johannes Kepler cũng đã nhận được thông tin về sự xuất hiện của ngôi sao siêu mới, tuy nhiên, do lý do thời tiết, ông chỉ có thể bắt đầu các quan sát của mình từ ngày 17/10 cùng năm. Ông đã quan sát rất chi tiết supernova này và tổng hợp các kết quả trong cuốn sách "De Stella nova in pede Serpentarii" (Tạm dịch "Ngôi sao mới xuất hiện ở chân của người xà phu"(1)). Vì lý do trên, tuy không phải là người đầu tiên phát hiện ra SN-1064 nhưng tên của Kepler đã được dùng để đặt cho supernova này. Ngày nay, tàn tích của SN-1064 là một trong những những đối tượng được quan sát nhiều nhất bởi các dụng cụ thiên văn hiện đại. Đó được coi là một "vật mẫu" tiêu biểu cho những nghiên cứu về supernova

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. October 09 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/10/10_09.htm
[2]Wikipedia, 07/2007. SN 1064, http://en.wikipedia.org/wiki/SN_1604

Ghi chú

(1) "Xà Phu" hay "Người Cầm Rắn" là biểu tượng của chòm sao Ophiuchus

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Sau khi nhận được tin Johann Gottfried Galle xác định thành công vị trí của Sao Hải Vương dựa trên những tính toán của Urbain Le Verrier, John Herschel đã đề nghị William Lassell thực hiện quá trình tìm kiếm vệ tinh của hành tinh này. Chỉ 17 ngày sau khi Sao Hải Vương được tìm ra, vệ tinh lớn nhất của nó đã được phát hiện. Trong thần thoại Hy Lạp, Triton là con trai của thần Poseidons (tương ứng với thần Neptune trong thần thoại La Mã).


Ảnh: Một trong những bức ảnh tàu Voyager-2 chụp Triton

Triton có bán kính khoảng 1353 km, nhỏ hơn Mặt Trăng một chút. Chu kỳ quay quanh trục và chu kỳ chuyển động xung quanh Sao Hải Vương của Triton bằng nhau và bằng 5 ngày 21 giờ Trái Đất. Tuy nhiên, Triton chuyển động trên quỹ đạo ngược với chiều quay tự của hành tinh mẹ (retrograde orbit). Thành phần chủ yếu của Triton là đá và nước dưới dạng băng. Bầu khí quyển của Triton rất loãng (áp suất bề mặt khoảng 0.01 milibar) với thành phần chủ yếu là nitơ và mêtan. Tàu thăm dò Voyager 2 đã phát hiện ra các hoạt động phun trào trên vệ tinh này. Các luồng khí nitơ lỏng, bụi và mêtan phun ra từ trong lòng Titan có thể đạt đến độ cao 8 km.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. October 10 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/10/10_10.htm
[2]Wikipedia, 10/2007. Triton (moon), http://en.wikipedia.org/wiki/Triton_%28moon%29

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ngày này năm xưa