James Keeler sinh ra ở thành phố LaSalle, bang Illinois. Đam mê thiên văn từ nhỏ, năm 21 tuổi, Keeler đã theo đoàn các nhà khoa học tại đài thiên văn Hải quân đến Colorador quan sát nhật thực. Năm 1880, ông gia nhập đoàn nghiên cứu của đài thiên văn Allegheny, đại học Pittsburgh do Samuel Pierpont Langley dẫn đầu. Đoàn nghiên cứu đã làm việc tại vùng núi Whitney với mục đích khảo sát sự hấp thụ ánh sáng Mặt Trời của bầu khí quyển. Năm 24 tuổi, Keeler bắt đầu làm việc tại đài thiên văn Allegheny. Năm 1888, ông chuyển đến đài thiên văn Lick. Sau đó, Keeler lần lượt được bổ nhiệm làm giám đốc đài thiên văn Allegheny (1891 – 1898) và giám đốc đài thiên văn Lick (từ năm 1898 cho đến khi ông qua đời đột ngột vào năm 1900).


Ảnh: James Edward Keeler (10/09/1857 – 12/08/1900)

Bằng cách phân tích quang phổ, Keeler đã chứng minh được rằng vành đai của Sao Thổ được hình thành từ những thiên thể nhỏ hơn. Năm 1895, Keeler cùng với Goerge Hale sáng lập ra tạp trí Astrophysical. Sử dụng chiếc kính thiên văn phản xạ 36 inch tại đài thiên văn Lick, Keeler đã tiến hành chụp ảnh và phân tích quang phổ rất nhiều thiên hà, tinh vân, cụm sao. Trong hai năm 1899, 1900, Keeler đã khám phá ra hai tiểu hành tinh.

Tên ông được đặt cho một khoảng trống ở trong vành đai Sao Thổ (Keeler gap), một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hỏa và một tiểu hành tinh (asteroid 2261 Keeler)

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 10 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_10.htm
[2]Wikipedia, 08/2007. James Edward Keeler, http://en.wikipedia.org/wiki/James_Keeler

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Arthur Auwers sinh ra ở thành phố Göttingen, Hanover, Đức. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ thiên văn tại đại học Königsberg năm 1862, Auwers làm việc tại đài thiên văn Gotha. Từ năm 1866, ông trở thành nhà thiên văn của viện Hàn lâm Khoa học Berlin.


Ảnh: Georg Friedrich Julius Arthur von Auwers (12/09/1838 – 24/01/1915)

Auwers đã chế tạo ra các dụng cụ rất chính xác để đo đạc vị trí và chuyển động cảu các thiên thể. Ông đã dự đoán được sự tồn tại những ngôi sao đồng hành của sao Sirius và sao Procyon trước khi chúng được quan sát bởi các kính thiên văn quang học. Dựa trên sự đi qua Mặt Trời của Sao Kim và những lần tiếp cận Trái Đất của các tiểu hành tinh, Auwers đã nhiều lần đo đạc và hiệu chỉnh khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời.

Auwers biên soạn và xuất bản nhiều danh mục rất chính xác về vị trí và chuyển động của các ngôi sao. Ông đã hoàn thành bản tinh chỉnh rút gọn cho các kết quả quan sát của James Bradley tại đài thiên văn Greenwich trong thế kỷ 18. Ông đã đặt nền móng cho một dự án thực hiện việc tinh chỉnh rút gọn tất cả những danh mục sao trên thế giới có từ năm 1750. Dự án này đã kéo dài cho đến tận năm 1966.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 12 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_12.htm
[2]JST, 2006-02-25. The Bruce Medalists, Georg Friedrich Julius Arthur von Auwers, http://www.phys-astro.sonoma.edu/BruceMedalists/Auwers/index.html
[3]Wikipedia, 06/2007. Arthur Auwers, http://en.wikipedia.org/wiki/Arthur_von_Auwers

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Soyuz-23 là chuyến bay thứ 2 đưa người lên làm việc tại trạm không gian Salyut-5. Soyuz-23 được phóng lên không gian ngày 14/10/1976, mang theo hai nhà du hành Vyacheslav Zudov và Valeri Rozhdestvenski. Vào phút cuối cùng trước khi tiến hành kết nối, trạm điều khiển dưới mặt đất nhận thấy rằng các thông số do thiết bị đo của Soyuz-23 gửi về khác so với thực tế. Vận tốc của tàu vũ trụ hơi lớn hơn và góc tiếp cận trạm không gian cũng bị chệch 1 chút so với kế hoạch. Khi chỉ còn cách Salyut-5 có 40 mét, quá trình kết nối tự động bị hoãn lại. Do sự hoạt động sai của các cảm biến nên lượng nhiên liệu dành cho việc hiệu chỉnh quỹ đạo khi kết nối đã bị tiêu thụ nhiều hơn dự kiến, phi hành đoàn cũng không thể thực hiện việc kết nối 1 cách « thủ công » mà phải quay về mặt đất.


Phi hành đoàn Soyuz-23, từ trái qua phải: Zudov, Rozhdestvenski

Trong quá trình đổ bộ, Soyuz-23 tiếp tục gặp trục trặc trong quá trình định vị. Các động cơ của tàu đã được bật hơi ít hơn 1 chút so với yêu cầu, do đó, Soyuz-23 đã hạ xuống cách địa điểm dự kiến khoảng 150 km. Module đổ bộ rơi vào một cơn bão tuyết và đáp xuống bề mặt hồ Tengiz, Kazakhstan. Chiếc dù nhanh chóng bị thấm nước và kéo chìm một phần của module đổ bộ xuống dưới nước. Chiếc van điều áp bị ngập và bị bịt lại để tránh nước tràn vào. Điều này cũng có nghĩa là không khí trong module chỉ được duy trì bằng hệ thống lọc. Zudov và Rozhdestvenski không thể mở nắp module vì như vậy thì nước sẽ tràn vào và họ sẽ nhanh chóng bị chết cóng với cái lạnh -22 độ C.

Do các điều kiện thời tiết và địa hình, các hoạt động cứu hộ diễn ra rất vất vả với nhiều nỗ lực và phương án không thành công. Trong suốt thời gian đó, toàn bộ nguồn điện còn lại trong module được sử dụng chỉ cho hệ thống lọc khí. Hai nhà du hành cũng phải liên tục bật/tắt hệ thống lọc để tiết kiệm tối đa năng lượng. Module đổ bộ hạ cánh vào khoảng gần nửa đêm ngày 16/10 và phải đến sáng hôm sau, thợ lặn mới có thể móc dây cáp của máy bay trực thăng vào moduel đổ bộ. Module được máy bay cẩu vào bờ, phi hành đoàn được giải cứu thành công.

Sau Soyuz-23, cả Vyacheslav Zudov và Valeri Rozhdestvenski đều không bay lên không gian thêm 1 lần nào nữa. Đây là chuyến bay vũ trụ đầu tiên và duy nhất của cả hai người.


Trực thăng giải cứu phi hành đoàn Soyuz-23

Tài liệu tham khảo:
[1]Mark Wade, 1997-2008. Encyclopedia Astronautica, This Day in Space History, October 16, http://astronautix.com/thisday/octber16.htm
[2]Videocosmos Co., © 2001-2007Soyuz-23, Lands On A Frozen Lake., http://www.videocosmos.com/soyuz23.shtm

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Trong các ngày 30/10 và 04/11 năm 1981, Liên Xô phóng liên tiếp hai tàu thăm dò Venera-13 và Venera-14 về phía Sao Kim. Hai tàu có cấu tạo giống hệt nhau, bao gồm 2 phần chính :

Lander : module này sẽ xâm nhập vào bầu khí quyển Sao Kim, hạ cánh bằng dù. Trên module này triển khai các thiết bị chụp ảnh, phân tích đất đá, địa chất của Sao Kim.

Orbiter : Khi tiếp cận Sao Kim và tách khỏi module đổ bộ, Orbiter sẽ bay lướt qua Sao Kim và tiếp tục chuyển động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Trong khoảng thời gian ngắn sau khi phóng Lander, Orbiter đóng vai trò trạm trung chuyển dữ liệu từ module đổ bộ về Trái Đất. Trên Orbiter còn có các thiết bị dùng để khảo sát vùng không gian liên hành tinh.


Module Orbiter (trái) và Module Lander phải, Venera-13 (Venera-13 và Venera-14 giống hệt nhau)

4 tháng sau khi rời mặt đất, ngày 05/03/1982, Venera-14 tiếp cận Sao Kim. 2 module Lander và Orbiter tách khỏi nhau. Module Lander dùng dù đổ bộ thành công xuống bề mặt Sao Kim, . Lander đã tiến hành thành công việc chụp ảnh bề mặt Sao Kim và khoan xuống dưói bề mặt để lấy mẫu và phân tích. Tuy nhiên, module này cũng đã thất bại trong việc lấy mẫu đất đá trên bề mặt hành tinh. Module đổ bộ hoạt động tổng cộng 57 phút trong nhiệt độ 465 độ C, áp suất 94 atm (nhiều hơn 25 phút so với dự kiến).

Tài liệu tham khảo:
[1]Mark Wade, 1997-2008. Encyclopedia Astronautica, This Day in Space History, November 04, http://www.astronautix.com/thisday/novber04.htm
[2]Wikipedia, 09/2008. Venera 14, http://en.wikipedia.org/wiki/Venera_14

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Percival Lowell sinh ra trong 1 gia đình thượng lưu tại Boston, bang Massachusetts, đông bắc Hoa Kỳ. Năm 1876, ông tốt nghiệp chuyên ngành toán, đại học Harvard. Trong những năm đầu 1880, Lowell đã tiến hành nhiều chuyến thám hiểm đến miền viễn tây Hoa Kỳ. Năm 1883, ông đảm nhiệm chức vụ thư ký và cố vấn cho đoàn ngoại giao Hàn Quốc khi họ đến thăm Hoa Kỳ. Sau đó, Lowell đến làm việc 1 thời gian tại Nhật Bản. Ông đã viết 1 số quyển sách về tôn giáo, tâm lý và lối sống của người Nhật.


Ảnh: Percival Lawrence Lowell (13/03/1855 – 12/11/1916)

Năm 1893, Lowell đầu tư xây dựng một đài thiên văn tại thành phố Flagstaff, bang Arizona. Đây là khu vực có độ cao khoảng 2300 mét với điều kiện quan sát rất lý tưởng. Năm 1894, đài thiên văn hoàn thành. Trong khoảng 15 năm tiếp theo, Lowell đã tiến hành quan sát Sao Hỏa rất tỉ mỉ. Do sự ngộ nhận thị giác, Lowell đã kết luận trên Sao Hỏa tồn tại các kênh đào (1). Ông đã cho rằng trên Sao Hỏa có một nền văn minh rất phát triển. Lowell là tác giả của 3 tác phẩm: Mars (Sao Hỏa, xuất bản năm 1895), Mars and Its Canals (Sao Hỏa và các sông đào của nó, xuất bản năm 1906), and Mars As the Abode of Life (Sao Hỏa, nơi cư trú của sự sống, xuất bản năm 1908).

Trong 8 năm cuối đời, Lowell tập trung vào việc tìm hành tinh nằm ngoài Sao Hải Vương. Dựa trên những nhiễu động đối với quỹ đạo của Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, Lowell đã giả thiết tồn tại “hành tinh thứ 9”. Ông gọi đó là “hành tinh X” (Planet X), tính toán quỹ đạo của nó và tiến hành tìm kiếm nó trên bầu trời. Lowell qua đời khi chưa xác định được “hành tinh X”. Tuy nhiên, công việc của ông đã được những người kế tục duy trì. Ngày 18/02/1930, dựa trên việc so sánh các bức ảnh chụp bởi chiếc kính phản xạ 13 inch của đài thiên văn Lowell, Clyde Tombaugh đã phát hiện ra “hành tinh X”. Thiên thể này đã được đặt tên là Pluto (Sao Diêm Vương) với chữ “P” nhằm tôn vinh Percival Lowell.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hỏa, một tiểu hành tinh (asteroid 1886 Lowell).

Ghi chú:

(1) Năm 1911, nhà thiên văn Hoa Kỳ Edward Emerson Barnard sử dụng kính viễn vọng lớn nhất Thế Giới, quan sát Sao Hỏa trong suốt 1 tháng trời nhưng không phát hiện thấy các kênh đào. Barnard cho rằng các kênh đào trên Sao Hỏa là một sản phẩm của sự ngộ nhận thị giác. Khi người cố chăm chú nhìn vào một vật thể khó thấy rõ, thì thường hay nhận nhầm nhiều điểm tối rải rác, lung tung dính liền lại thành từng đường thẳng một. Câu trả lời KHÔNG cho việc xuất hiện các kênh đào trên Sao Hỏa chỉ thực sự kết thúc vào những năm 1960, khi mà các tàu thăm dò Mariner 6 và Mariner 7 tiếp cận và chụp được những bức ảnh chi tiết về bề mặt Sao Hỏa. Những kênh đào trên Sao Hỏa mà Lowell (và 1 số nhà thiên văn khác như Schiaparelli, Perrotin, Thollon, ...) quan sát được qua kính thiên văn chỉ là những dãy núi hình vòng xếp một cách ngẫu nhiên thành tuyến.

Tài liệu tham khảo:

[1]Today in Science History, 1999 - 2007. November 12 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/11/11_12.htm
[2]Wikipedia, 10/2007. Percival Lowell, http://en.wikipedia.org/wiki/Percival_Lowell

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Bernhard Schmidt sinh ra tại đảo Naissaar, phía bắc thủ đô Tallinn của Estonia. Từ nhỏ, ông đã rất say mê tìm hiểu, thí nghiệm, mày mò chế tạo các thiết bị khoa học và quan sát thiên văn. Năm 15 tuổi, trong 1 lần nhồi thuốc súng, tai nạn đã xảy ra và Schmidt bị mất cánh tay phải. Năm 1895, ông chuyển đến sống tại Tallinn. Sau 1 thời gian làm thợ nhiếp ảnh và nhân viên thiết kế kỹ thuật, năm 1901, ông đến học tại trường đại học Kỹ thuật Chalmers, Thụy Điển. Chỉ 1 thời gian ngắn sau, Schmidt chuyển đến học tại Mittweida, Đức. Ngoài giờ học, Schmidt còn giành thời gian chế tạo các thiết bị quang học để bán cho những nhà thiên văn nghiệp dư.

Các sản phẩm của ông có chất lượng rất tốt và được những giáo sư hàng đầu tại những đài thiên văn khắp nước Đức đánh giá rất cao. Sau khi tốt nghiệp, Schmidt thành lập công ty chế tạo thiết bị quang học phục vụ cho các quan sát thiên văn. Trong thời gian từ 1904 – 1914, công việc kinh doanh của ông rất thuận lợi. Schmidt không chỉ chế tạo ra các gương cầu chính xác nhất thời bấy giờ mà còn có khả năng hiệu chỉnh, cải tiến những thiết bị đã được chế tạo bởi những hãng khác. Bằng những thiết bị tự chế tạo, Schmidt đã tiến hành chụp những bức ảnh rất «ấn tượng» về Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh.

 


Bernhard Woldemar Schmidt (30/03/1879 - 01/12/1935)


Thế chiến thứ nhất nổ ra, công việc của Schmidt bị gián đoạn. Ông đã bị bắt và bị quản thúc 1 thời gian. Sau khi được thả, Schmidt cố gắng thiết lập lại công việc nhưng gặp rất nhiều khó khăn. Nước Đức vừa bại trận cần tiền để bồi thường chiến tranh, không thể chi trả cho các mục đích khoa học. Năm 1927, ông đến làm việc dài hạn tại đài thiên văn Hamburg. Trong những năm 1927, 1929, ông đã tham gia vào hai chuyến quan sát nhật thực do đài thiên văn tổ chức.

Năm 1930, Schmidt chế tạo thành công «camera phản xạ trường nhìn rộng» (wide-angle reflective camera). Đây được đánh giá là phát minh quan trọng nhất của Schmidt, một phát minh gây ra «cuộc cách mạng» trong lĩnh vực thiên văn học và lĩnh vực chế tạo các thiết bị quang học nửa đầu thế kỷ XX. Schmidt đã giải quyết triệt để các vấn đề về quang sai cầu, quầng và loạn ảnh. Dựa trên mô hình và giải pháp của Schmidt, các nhà khoa học đã có thể chế tạo ra những chiếc kính thiên văn trường nhìn rộng có khả năng chụp ảnh với thời gian phơi sáng rất ngắn.

Schmidt qua đời ở tuổi 56 vì bệnh viêm phổi. Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hỏa.

 

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. December 01 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/12/12_01.htm
[2]Wikipedia, 11/2007. Bernhard Schmidt, http://en.wikipedia.org/wiki/Bernhard_Schmidt

Trần Tuấn Tú
ttvnol.com

SOHO là dự án quốc tế, được thực hiện và điều hành bởi NASA và ESA. ESA đảm trách việc chế tạo tàu vũ trụ. Việc phóng và điều hành hoạt động của tàu vũ trụ là trách nhiệm của NASA. Tổng cộng có hơn 200 nhà khoa học thuộc cả châu Âu và Hoa Kỳ tham gia chế tạo 12 thiết bị khoa học triển khai trên SOHO.

Được phóng lên không gian bởi tên lửa Atlas IIAS, SOHO hoạt động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời với chu kỳ bằng đúng 1 năm Trái Đất. Vị trí của SOHO giao động xung quanh điểm cân bằng Lagrange L1 tạo bởi Mặt Trời và Trái Đất (1). Khoảng cách trung bình từ SOHO đến Trái Đất là 0.01 AU, từ SOHO đến Mặt Trời là 0.99 AU. Sau 12 năm, SOHO vẫn tiếp tục hoạt động với 3 nhiệm vụ chính sau:


SOHO quan sát Mặt Trời (ảnh minh họa)

 

+ Tìm hiểu cấu trúc và hoạt động của các lớp bên trong Mặt Trời
+ Tìm hiểu nguồn gốc của vành nhật hoa
+ Tìm hiểu nguồn gốc và sự gia tốc của gió mặt trời

Ghi chú

(1) Giả sử ta có 2 vật khối lượng lớn, và một vật khối lượng nhỏ hơn hẳn hai vật đó, trong không gian sẽ tồn tại 5 điểm mà ở đó vật khối lượng nhỏ sẽ luôn duy trì vị trí tương đối so với 2 vật khối lượng lớn (L1 - L5). Một trong những ví dụ minh họa nổi tiếng nhất về điểm Lagrange đó là vị trí tương đối của Sao Mộc, Mặt Trời và tiểu hành tinh Asin. Quỹ đạo của Asin gần giống với quỹ đạo của Sao Mộc, tuy vậy, nó chẳng bao giờ đụng độ với Sao Mộc, bởi vì nó cách xa vị trí của Sao Mộc trên quỹ đạo hơn 650 triệu km, và nó luôn chuyển động với vận tốc bằng tốc độ của Sao Mộc cho nên nó cứ nằm cách Sao Mộc 650 triệu km. Nếu ta vẽ một đường xuất phát từ Mặt Trời tới Sao Mộc rồi kéo tới tiểu hành tinh Asin và quay trở lại Mặt Trời, thì sẽ được một tam giác đều. Lagrange đã chứng minh rằng một vị trí như vậy sẽ bền vững, cho nên những thiên thể cứ ở mãi các đỉnh của một tam giác đều tuy chúng vẫn chuyển động.

Tài liệu tham khảo:

[1]Kraig McNutt, Today in Space History, 2007. Archive for December, http://todayinspacehistory.wordpress.com/2007/12/
[2]ESA and NASA, 05 Dec 2007, SOHO, Solar and Heliospheric Observatory, http://soho.esac.esa.int/home.html
[3]Wikipedia, 11/2007. Solar and Heliospheric Observatory, http://en.wikipedia.org/wiki/SOHO_spacecraft

Trần Tuấn Tú
ttvnol.com

James Challis sinh ra tại Braintree, đông nam nước Anh. Ông tốt nghiệp trường cao đẳng Trinity, đại học Cambridge năm 1825 và bắt đầu làm việc tại trường từ năm 1826. Năm 1836, ông được bổ nhiệm chức vụ giáo sư Plumian (1) về thiên văn. Cũng trong năm này, ông kế nhiệm George Biddell Airy làm giám đốc đài thiên văn Cambridge. Challis đã có nhiều công lao trong việc cải thiện các trang thiết bị của đài thiên văn và tiến hành các quan sát chính xác. Ông là một trong những người đầu tiên phát hiện sao chổi 3D/Biela bị vỡ ra làm hai vào năm 1846. Ông đã công bố hơn 60 bài báo khoa học về các kết quả quan sát sao chổi và tiểu hành tinh.

James Challis 12/12/1803 – 03/12/1882

Năm 1845, John Couch Adams đã thực hiện việc tính toán vị trí của «hành tinh thứ 8» dựa trên những sai khác trong quỹ đạo biểu kiến của Sao Thiên Vương. Adams đã trình bày những kết quả của mình với Challis nhưng có vẻ công trình của Adams chưa đủ sức thuyết phục. Đến cuối tháng 9 cùng năm, George Airy cũng đã trực tiếp trao đổi và yêu cầu Adams giải thích một số vấn đề. Adams đã viết nháp những câu trả lời, tuy nhiên lại không gửi đi. Trong khi đó, độc lập với Adams, Le Verrier cũng tiến hành tính toán quỹ đạo của “hành tinh thứ 8” và công bố các kết quả trong kỷ yếu của viện Hàn lâm Khoa học Paris tháng 11 năm 1845. Nhận thấy sự giống nhau giữa các số liệu tính toán của Adams và Le Verrier, Airy đã tổ chức một cuộc họp tại đài thiên văn Greenwich và yêu cầu Challis thực hiện việc kiểm tra các kết quả tính toán. Mặc dù được yêu cầu tiến hành ngay nhưng có vẻ Challis không quan tâm và đã không giành thời gian cho việc này. Ông chỉ thực sự tập trung quan sát từ cuối tháng 7/1846. Sau này, khi Sao Hải Vương được Johann Gottfried Galle của đài thiên văn Berlin xác định dựa trên các tính toán của Le Verrier (23/09/1846), Challis mới nhận thấy rằng ông đã hai lần đánh dấu vị trí của thiên thể này trong các ngày 8 và 12 tháng 8, nhưng không nhận ra đó là một hành tinh.


Challis đã đánh mất cơ hội ghi danh vào lịch sử khi ông không tập trung hết sức cho việc tìm kiếm Sao Hải Vương. Thất bại này cũng làm ảnh hưởng khá nhiều đến danh tiếng của ông. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận những đóng góp của ông cho thiên văn học. Đồng thời, ông còn có nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý và toán học. Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. December 03 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/12/12_03.htm
[2]Wikipedia, 11/2007. James Challis, http://en.wikipedia.org/wiki/James_Challis

Ghi chú
(1) Plumian Professor và Lowndean Professor là hai chức danh giáo sư cao nhất về Thiên văn học tại trường Cambridge. Plumian Professor tham gia giảng dạy và nghiên cứu trong cả 2 lĩnh vực : Thiên văn và Triết học. Lowndean Professor tham gia giảng dạy và nghiên cứu trong cả hai lĩnh vực: Thiên văn và Địa Lý.


Trần Tuấn Tú
Theo ttvnol.com

Mars Pathfinder là tàu thám hiểm không người lái với nhiệm vụ nghiên cứu khí quyển, khí hậu, địa hình và phân tích thành phần đất đá của hành tinh đỏ. Đây là một trong số hàng loạt tàu vũ trụ không người lái được NASA phóng đến Sao Hỏa trong giai đoạn nửa cuối những năm 1990. Mars Pathfinder bao gồm một module đổ bộ và 1 xe tự hành (Sojourner). Với Mars Pathfinder, lần đầu tiên một xe tự hành được đưa lên bề mặt một hành tinh khác, đồng thời cũng là lần đầu tiên thử nghiệm thành công quá trình đổ bộ có sử dụng túi khí. Tổng kinh phí dành cho Mars Pathfinder ít hơn hẳn so với những dự án thám hiểm vũ trụ bằng tàu không người lái trước đó. Mars Pathfinder đã chứng minh tính khả thi của việc thám hiểm các thiên thể trong vũ trụ với nguồn kinh phí không quá cao. Điều này còn có ý nghĩa hơn nữa nếu để ý rằng, trước Mars Pathfinder, 2/3 số dự án thám hiểm Sao Hỏa đã gặp thất bại.

 

P48155a_browse.jpg picture by bkd_tech
Tàu Mars Pathfinder được phóng lên

Được phóng lên không gian bằng tên lửa đẩy Delta II-7925, Mars Pathfinder mất 7 tháng để bay đến Sao Hỏa. Ngày 04/07/1997, module đổ bộ đã hạ cánh thành công xuống Thung lũng Thần chiến tranh (Ares Vallis), bắc bán cầu hành tinh đỏ. Ngày hôm sau, xe tự hành Sojourner rời khỏi module đổ bộ và bắt đầu quá trình di chuyển, phân tích các mẫu đất đá. Sojouner là một xe tự hành nhỏ, có 6 bánh, nặng 11kg trên Trái Đất. Tốc độ tối đa có thể đạt được của Sojouner là 0.6m/phút. Sojouner cũng là bước thử nghiệm cho việc thiết kế các xe tự hành cỡ nhỏ hoạt động trên Sao Hỏa. Các thành công của Sojouner là tiền đề quan trọng cho việc triển khai hai xe tự hành tiếp theo Spirit và Opportunity.

mars1_pathfinder.jpg picture by bkd_tech
Mars Pathfinder dáp xuống bề mặt sao hỏa

Tổng cộng Mars Pathfinder đã truyền về Trái Đất 2.3 tỉ bit dữ liệu, trong đó có hơn 16500 bức ảnh do module đổ bộ chụp, 550 bức ảnh do Sojourner chụp, kết quả của 15 phân tích đối với các mẫu đất đá và rất nhiều thông tin liên quan đến các yếu tố khí hậu. Tín hiệu cuối cùng được truyền về Trái Đất vào ngày 27/09/1997. Sau 1 số lần tái thiết lập liên lạc không thành công, dự án Mars Pathfinder đã kết thúc vào ngày 10/03/1998. Đây được đánh giá là một trong những chương trình không gian thành công nhất của NASA. Module đổ bộ đã hoạt động trong thời gian dài gấp 3 lần, xe tự hành đã hoạt động trong thời gian dài gấp 12 lần so với kế hoạch.

Tài liệu tham khảo:
[1]Kraig McNutt, Today in Space History, 2007. Archive for December, http://todayinspacehistory.wordpress.com/2007/12/
[2]NASA/JPL, NASA Facts, Mars Pathfinder, http://www.jpl.nasa.gov/news/fact_sheets/mpf.pdf
[3]Wikipedia, 12/2007. Mars Pathfinder, http://en.wikipedia.org/wiki/Mars_Pathfinder


Trần Tuấn Tú
Theo TTVNOL

 

 

 

 

 


Trần Tuấn Tú

Theo TTVNOL

Georg Rheticus sinh ra tại thành phố Feldkirch, miền tây nước Áo. Năm 1536, sau khi tốt nghiệp thạc sĩ đại học Wittenberg, ông ở lại trường làm giảng viên thiên văn và toán. Năm 1538, Rheticus được nhà trường phân công thực hiện một chuyến đi dài ngày, đến học hỏi và làm việc cùng các nhà thiên văn nổi tiếng đương thời. Tháng 5 năm 1539, ông đến Frauenburg (Ba Lan), trở thành người học trò duy nhất của Nicolas Copernicus.

Rheticus là một trong những người đầu tiên hưởng ứng và góp phần quan trọng vào việc quảng bá thuyết Nhật Tâm của Copernicus. Năm 1540, Rheticus xuất bản « Narratio Prima » (Thông báo thứ nhất), tác phẩm đầu tiên giới thiệu về thuyết Nhật Tâm. Năm 1541, ông vận động thành công hoàng thân Albrecht cho phép in tác phẩm « De Revolutionibus Orbium Coelestium » (Về chuyển động quay của các thiên thể), tác phẩm tâm huyết cả đời của Copernicus. Cuốn sách được bắt đầu in năm 1542, bản in đầu tiên đã kịp được đặt vào tay Copernicus khi ông đang hấp hối (tháng 5 năm 1543).

Từ năm 1542, Rheticus được mời đến giảng dạy toán tại trường đại học Leipzig. Sau đó ông tiếp tục thực hiện 1 số chuyến du học ở các thành phố châu Âu và học thêm nghề dược. Năm 1554, Rheticus chuyển đến làm việc tại đại học Krakóv, Ba Lan. Trong những năm cuối đời, Rheticus sống tại thành phố Kassa, nay được đổi tên là Kosice, Hungary.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.


Ảnh: Tác phẩm Narratio Prima

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 16 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_16.htm
[2].JOC/EFR, 06/1998.Georg Joachim von Lauchen Rheticus, http://www-history.mcs.st-andrews.ac.uk/Biographies/Rheticus.html

Trần Tuấn Tú
ttvnol.com

 

 


Johann Palisa sinh ra tại thành phố Opava, trước thuộc Áo, nay thuộc miền bắc cộng hòa Czech. Năm 1870, ông bắt đầu làm việc tại đài thiên văn trường đại học Vienna, sau đó chuyển đến đài thiên văn Geneva. 2 năm sau, Palisa được bổ nhiệm làm giám đốc đài thiên văn của hải quân Áo tại Pola khi mới chỉ 24 tuổi. Năm 1880, ông quay trở lại Vienna, làm việc trong đài thiên văn mới được xây dựng của thành phố. Palisa đảm nhiệm chức vụ phó giám đốc đài thiên văn Vienna từ năm 1908 đến khi về hưu vào năm 1919.

Palisa.jpg picture by bkd_tech
Johann Palisa (06/12/1848 – 02/05/1925)

Trong sự nghiệp của mình, Palisa đã phát hiện được tổng cộng 122 tiểu hành tinh, trong đó có 1 số tiểu hành tinh rất nổi tiếng :

+ Asteoroid 153 Hilda : đại diện cho nhóm tiểu hành tinh có quỹ đạo cộng hưởng 3:2 (3:2 resonance) với Sao Mộc.
+ Asteroid 216 Kleopatra : tiểu hành tinh được đặt theo tên của nữ hoàng Ai Cập. Năm 2000, đài thiên văn Arecibo đã phát hiện ra hình dáng kỳ lạ, rất giống 1 khúc xương của thiên thể này.
+ Asteroid 240 Siwa : năm 2008, tàu Rosetta của ESA với nhiệm vụ chính là thăm dò sao chổi 67P/Churyumov-Gerasimenko sẽ bay qua thiên thể này.
+ Asteroid 243 Ida : tiểu hành tinh đầu tiên được phát hiện có vệ tinh khi được tàu thăm dò Sao Mộc Galileo bay qua và quan sát vào năm 1993.
+ Asteroid 253 Mathile : tiểu hành tinh được tàu thám hiểm NEAR khảo sát năm 1997.
+ Asteroid 324 Bamberga : tiểu hành tinh đứng thứ 16 về mặt kích thước

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh (asteroid 914 Palisana)

Tài liệu tham khảo:

[1]Today in Science History, 1999 - 2007. December 06 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/12/12_03.htm
[2]Wikipedia, 12/2007. Johann Palisa, http://en.wikipedia.org/wiki/Johann_Palisa

Trần Tuấn Tú
theo TTVNOL

Ngày này năm xưa