Apollo-17 là tàu vũ trụ thứ 6 đưa con người đổ bộ thành công xuống Mặt Trăng, đây cũng là chuyến bay cuối cùng đưa con người lên Mặt Trang trong thế kỷ XX. Phi hành đoàn Apollo-17 bao gồm 3 người:

+ Eugene A. Cernan : chỉ huy.
+ Ronald E. Evans : phi công điều khiển Command Module bay quanh Mặt Trăng.
+ Harrison H. "Jack" Schmitt : phi công điều khiển module đổ bộ.


Phi hành đoàn Apollo-17, từ trái qua phải: Schmitt, Cernan và Evans

Được phóng lên không gian bằng tên lửa Saturn-V, Apollo-17 đã mất khoảng 4 ngày để tiếp cận Mặt Trăng. Vào lúc 02 giờ 23 phút UTC ngày 11/12/1972, module đổ bộ đã hạ cánh thành công xuống thung lũng Taurus-Littrow ở bắc bán cầu Mặt Trăng. Hai nhà du hành Cernan và Schmitt đã ở trên Mặt Trăng 74 giờ 59 phút, 4 lần thực hiện các hoạt động ngoài phi thuyền (EVA). Với sự hỗ trợ của 1 chiếc xe nhỏ, 2 nhà du hành đã di chuyển được tổng quãng đường 34 km, thu thập 110.52 kg đất đá Mặt Trăng.


Ảnh: Huy hiệu Apollo-17

Ngày 15/12/1972, phần trên của module đổ bộ đã bay lên kết nối thành công với command module trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trăng. Eugene Cernan trở thành người cuối cùng rời khỏi Mặt Trăng trong thế kỷ XX. 19 giờ 24 phút ngày 19/12/1972, phi hành đoàn Apollo-17 đã hạ cánh thành công xuống phía nam Thái Bình Dương.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. December 07 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/12/12_07.htm
[2]Wikipedia, 12/2007. Apollo 17, http://en.wikipedia.org/wiki/Apollo_17

Trần Tuấn Tú
Theo TTVNOL

Peter Andreas Hansen sinh ra tại thành phố Tønder, nam Đan Mạch. Ông khởi nghiệp với nghề chính là thợ sửa chữa đồng hồ, đồng thời tự học thêm các môn khoa học. Năm 1820, ông lên Copenhagen làm trợ lý cho nhà thiên văn Heinrich Christian Schumacher. Từ năm 1821 đến năm 1825, Hansen làm việc tại đài thiên văn mới được xây dựng ở thành phố Altona (nay thuộc Đức). Sau đó, ông được bổ nhiệm làm giám đốc đài thiên văn Seeberg, thành phố Gotha (Đức). Hansen đã gắn bó với đài thiên văn Seeberg cho đến những năm cuối đời.


Peter Andreas Hansen (08/12/1795 – 28/03/1874)

Lĩnh vực chủ yếu của Hansen là nghiên cứu về chuyển động của các thiên thể. Năm 1830, ông được viện Hàn lâm Berlin trao giải thưởng cho công trình nghiên cứu đối sự tác động lẫn nhau giữa Sao Mộc và Sao Thổ. Năm 1850, ông được giải thưởng của viện Hàn lâm Paris trao cho luận văn về sự nhiễu động trong quỹ đạo của các sao chổi. Hansen là tác giả (hoặc đồng tác giả) của các bảng vị trí Mặt Trăng, Mặt Trời có độ chính xác rất cao, được ứng dụng rộng rãi trong các lịch hàng hải suốt 1 thời gian dài.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh (asteroid 4775 Hansen)

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. December 08 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/12/12_08.htm
[2]Wikipedia, 12/2007. Peter Andreas Hansen, http://en.wikipedia.org/wiki/Peter_Andreas_Hansen

Trần Tuấn Tú
Theo TTVNOL

Pioneer Venus Multiprobe là tàu vũ trụ thứ 2 thuộc dự án Pioneer Venus của NASA với nhiệm vụ thám hiểm Sao Kim. Tàu vũ trụ thực hiện duy nhất 1 công việc là phân tích và khảo sát bầu khí quyển hành tinh chị em của Trái Đất. Pioneer Venus Multiprobe bao gồm 5 thành phần chính :
+ 4 thiết bị thăm dò khí quyển, trong đó có 1 thiết bị có kích thước lớn hơn hẳn 3 thiết bị còn lại.
+ Phần thân tàu (bus).


Pioneer Venus Multiprobe (ảnh minh họa)

Ngày 08/08/1978, tàu vũ trụ được lên không gian bằng hệ thống tên lửa đẩy Atlas/Centaur. Sau hơn 3 tháng, trong các ngày 16/11 và 20/11, các thiết bị thăm dò khí quyển lần lượt được phóng về phía Sao Kim. Ngày 09/12/1978, cả 4 thiết bị lần lượt thâm nhập vào bầu khí quyển hành tinh mục tiêu tại những vị trí khác nhau. Quá trình đo đạc thành phần hóa học, áp suất, mật độ, nhiệt độ chủ yếu được tiến hành đối với nửa phía dưới của bầu khí quyển. Phần thân tàu bay ngay phía sau có tác dụng chuyển tiếp tín hiệu về Trái Đất. Sau gần 1 tiếng kể từ khi xâm nhập, các thiết bị thăm dò va chạm xuống bề mặt Sao Kim. 3 thiết bị đo chấm dứt hoạt động do va đập, chiếc còn lại vẫn tiếp tục hoạt động được 67 phút nữa cho đến khi hết pin (nằm ngoài kế hoạch). Phần thân tàu không được trang bị các lớp bảo vệ đã bị phá hủy chỉ 1 phút sau khi bay vào bầu khí quyển.

[1]Mark Wade,, 1997-2007. Encyclopedia Astronautica, This Day in Space History, Decmeber 9, http://www.astronautix.com/thisday/decber09.htm
[2]Wikipedia, 12/2007. Pioneer Venus Project, http://en.wikipedia.org/wiki/Pioneer_Venus_project
[3]NASA/JPL, Mission and Spacecraft Library Quick Look, Pionner 13, http://msl.jpl.nasa.gov/QuickLooks/pioneer13QL.html

Trần Tuấn Tú
TTVNOL

Là chuyến bay lên không gian thứ 10 của tàu con thoi Discovery, phi hành đoàn STS-16 bao gồm 7 người :

+ Mark Polansky : chỉ huy
+ William Oefelein : phi công
+ Nicholas Patrick : chuyên viên
+ Robert Curbeam : chuyên viên
+ Christer Fuglesang : chuyên viên, người Thuỵ Điển đầu tiên bay vào không gian
+ Joan Higginbotham : chuyên viên
+ Sunita "Suni" Williams : chuyên viên


Phù hiệu STS-116

Các nhiệm vụ chính của STS-116 bao gồm:

+ Vận chuyển và lắp thêm vào ISS một đoạn khung (P5 Truss, dài 3.37 mét, nặng 1.818 tấn)
+ Phóng 4 vệ tinh mini
+ Chuyển giao phi hành đoàn, Sunita Williams sẽ ở lại làm việc trên ISS thay cho Thomas Rieter.
+ Chở theo một số trang thiết bị, nước, thực phẩm cho trạm không gian.

Sau 1 lần bị hoãn vì lý do thời tiết, ngày 10/12 (1), tàu con thoi đã được phóng lên quỹ đạo và sau đó kết nối thành công với ISS (11/12). Các nhà du hành đã thực hiện 4 chyển đi bộ ngoài không gian, lắp đặt phần khung mang theo vào trạm, đồng thời thực hiện việc chỉnh lại hệ thống dây điện của toàn bộ ISS với mục đích đưa vào hoạt động hệ thống pin mặt trời mới được mang lên vào tháng 9/2006 (STS-115).


Curbeam và Fuglesang trong lần đi bộ ngoài không gian thứ nhất

Ngày 19/12, tàu con thoi gỡ bỏ kết nối với trạm không gian. Trong 2 ngày tiếp theo, phi hành đoàn lần lượt phóng thành công 4 vệ tinh mang theo. Tàu con thoi đã hạ cánh thành công tại Trung tâm Không gian Kenedy ngày 22/12. Sau STS-116, Discovery được bảo dưỡng trong hơn nửa năm và tiếp tục có chuyến bay tiếp theo vào ngày 23/10/2007 (STS-120).


Tài liệu tham khảo:
[1]Mark Wade, 1997-2008. Encyclopedia Astronautica, This Day in Space History, December 10, http://www.astronautix.com/thisday/decber10.htm
[2]Wikipedia, 11/2008. STS-116, http://en.wikipedia.org/wiki/STS-116

Ghi chú :

(1) Một số tài liệu sử dụng giờ EST nên ngày phóng của tàu Discovery trong nhiệm vụ STSS-116 là 20h47 ngày 09/12/2006, bài viết dựa theo giờ UTC (01h47 UTC ngày 10/12/2006)

Trần Tuấn Tú
Theo TTVNOL

Annie Jump Cannon sinh ra tại thành phố Dover, bang Delaware, phía đông nước Mỹ. Năm 1880, bà đến học tại trường cao đẳng Wellesey bang Massachusettes, một trong những trường hàng đầu giành riêng cho phụ nữ của Hoa Kỳ. Trong thời gian này, Cannon đã bị bệnh sốt phát ban mà hậu quả là bà bị suy giảm thính lực nghiêm trọng, gần như điếc hoàn toàn. 4 năm sau, bà tốt nghiệp chuyên ngành vật lý. Do sự bất bình đẳng giới trong xã hội thời điểm đó, Cannon đã không tìm được công việc phù hợp với mình tại Dover và cũng khó thích nghi với cuộc sống xung quanh mặc dù bà có học vấn cao.


Annie Jump Cannon (11/12/1863 – 13/04/1941)

Năm 1893, mẹ của bà qua đời, cuộc sống gia đình trở nên khó khăn hơn. Cannon đã liên hệ lại với thầy giáo cũ, giáo sư Vật lý và Thiên văn Sarah Frances Whiting, tại trường Wellesley để tìm việc. Whiting đã nhận Cannon làm trợ lý, đồng thời cho phép bà vừa làm vừa học thêm chuyên ngành thiên văn. Năm 1896, Cannon được nhà thiên văn Edward C. Pickering nhận vào làm việc tại đại thiên văn Harvard.

Cannon tham gia việc biên soạn bảng danh mục sao của đài thiên văn Harward. Kế thừa và tinh chỉnh các kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp, đặc biệt là dựa vào quy tắc phân loại sao dựa trên đặc điểm của các vạch hydro trong quang phổ sao của Williamina Fleming, Cannon đã đưa ra cách phân loại sao đơn giản hơn với các nhóm chính : O, B, F, G, K, M. Phương pháp phân loại này của Cannon đã trở lên phổ biến và được áp dụng cho đến ngày nay.

Cannon có khả năng phân loại sao dựa trên các bức ảnh quang phổ của chúng rất nhanh. Trong thời gian từ năm 1911 đến 1915, trung bình trong một tháng bà phân loại được 5000 ngôi sao. Cho đến năm 1915, bà đã phân loại được 225300 ngôi sao, hoàn thành cơ bản bảng danh mục Henry Draper của đài thiên văn Harvard.

Annie Cannon được trao tặng rất nhiều giải thưởng, danh hiệu vinh dự. Năm 1923, bà được bầu là một trong 12 người phụ nữ tiêu biểu của Hoa Kỳ. Tên bà được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh (asteroid 1120 Cannonia).

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2008. December 11 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/12/12_11.htm
[2]Logan Hennessey ''00, ASTR 210, Last modified: 2006 Jul 23. Annie Jump Cannon Homepage at Wellesley College, http://www.wellesley.edu/Astronomy/Annie/index.html
[3]Wikipedia, 12/2008. Annie Jump Cannon, http://en.wikipedia.org/wiki/Annie_Jump_Cannon

Trần Tuấn Tú
Theo TTVNOL

Stuart Allen Roosa sinh ra tại bang Colorado, miền trung Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp 2 trường đại học tại các bang Oklahoma và Arizona, ban đầu, Roosa làm lính cứu hỏa, chuyên thực hiện các nhiệm vụ đổ bộ và cứu hộ tại các khu vực địa hình phức tạp, tại sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ. Năm 1953, ông gia nhập lực lượng không quân và trở thành phi công thử nghiệm vào đầu những năm 1960.


Stuart Allen Roosa (16/081933 – 12/12/1994)

Năm 1966, Roosa là một trong 19 người được chọn vào nhóm phi công vũ trụ thứ 5 của NASA. Ngày 31/01/1971, ông có chuyến bay đầu tiên lên không gian trên tàu Apollo-14. Cùng với Alan B. Shepard và Edgard D. Mitchell, Roosa thực hiện chuyến bay thứ 4 đưa con người đổ bộ xuống Mặt Trăng trong lịch sử hàng không vũ trụ. Ông là người lái Command Service Module bay trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trăng trong khi Shepard và Mitchell đổ bộ và thực hiện các hoạt động ngoài phi thuyền (EVA). Roosar đã mang theo trong chuyến bay đến Mặt Trăng hàng trăm hạt giống cây trồng. Sau này, những hạt cây đã được gieo và trồng trên nhiều vùng của nước Mỹ, cũng như ở một số nước khác (Nhật, Bản, Braxin, …) với mục đích quảng bá hàng không vũ trụ ra cộng đồng. Chúng được gọi là các “cây mặt trăng” (moon tree).

Sau thành công của Apollo-14, Roosa tiếp tục được chỉ định vào nhóm phi công dự bị cho các nhiệm vụ Apollo-16, Apollo-17 và vị trí chỉ huy trong nhiệm vụ Apollo-21. Tuy nhiên, chương trình Apollo đã chấm dứt sau Apollo-17. Roosa chuyển sang làm việc trong chương trình Tàu con thoi của NASA cho đến khi về hưu năm 1976.

Roosa chỉ bay lên không gian 1 lần duy nhất với Apollo-14. Cho đến thời điểm này, ông là một trong 24 người đã từng bay đến Mặt Trăng. Sau khi rời NASA và không quân, ông tiếp tục thu được rất nhiều thành công trong các hoạt động kinh doanh. Roosa qua đời tại Washington D.C vì bệnh viêm tụy.

Tài liệu tham khảo:
[1]Mark Wade, 1997-2008. Encyclopedia Astronautica, This Day in Space History, December 12, http://www.astronautix.com/thisday/decber12.htm
[2]Wikipedia, 12/2008. Stuart Roosa, http://en.wikipedia.org/wiki/Stuart_Roosa

Pioneer-8 là tàu vũ trụ không người lái thuộc chương trình Pioneer thực hiện các nhiệm vụ thám hiểm vùng không gian liên hành tinh. Đây là một trong nhóm 4 tàu Pioneer (từ Pioneer-6 đến Pioneer-10) tập trung vào việc nghiên cứu gió mặt trời, từ trường mặt trời và các tia vũ trụ trong vùng không gian lân cận quỹ đạo Trái Đất.


Pioneer-8 (ảnh minh hoạ chung sử dụng cho các tàu Pioneer-6, 7, 8, 9)

Cấu tạo cơ bản của các tàu Pioneer-6, 7, 8, 9 là giống nhau. Chúng có khối lượng khoảng 146 kg, được phóng bằng tên lửa đẩy Delta-E. Pioneer-8 hoạt động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời với khoảng cách trung bình ~ 1.1 AU.

Kết quả thu thập từ 4 tàu Pioneer giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về các hoạt động cơ bản của sao, của các luồng gió mặt trời. Chúng cũng tạo thành một mạng lưới đầu tiên cho phép theo dõi một số biến đổi của Mặt Trời, đặc biệt là các “cơn bão mặt trời” (solar storm) có thể gây ảnh hưởng xấu đến hệ thống liên lạc và năng lượng ở Trái Đất.

Tài liệu tham khảo:
[1]Mark Wade, 1997-2008. Encyclopedia Astronautica, This Day in Space History, December 13, http://astronautix.com/thisday/decber13.htm
[2]Wikipedia, 11/2008. Pioneer 6, 7, 8, and 9, http://en.wikipedia.org/wiki/Pioneer_8

Trần Tuấn Tú
Theo TTVNOL

Tycho Brahe sinh ra tại vùng Scania, trước thuộc Đan Mạch, nay thuộc Thuỵ Điển trong 1 gia đình quý tộc. Tên khai sinh của ông là Tyge Ottesen Brahe (1). Năm 1559, Tycho đến học ngành luật tại đại học Copenhagen. Ông cũng đồng thời học thêm nhiều môn khác và từ đó yêu thích thiên văn. Tycho bị cuốn hút mạnh bởi nhật thực ngày 21/08/1560, một dịp nhật thực đã được dự đoán chính xác, và bắt đầu tự học thiên văn với sự chỉ dạy của một số giáo sư. Năm 1562, ông chuyển đến đại học Leipzig học một số chuyên ngành về ngôn ngữ và văn hoá.

Tycho tiếp tục tự học thiên văn và bắt đầu ghi chép lại các quan sát của mình. Năm 1563, Tycho quan sát sự giao hội của Sao Thổ và Sao Mộc. Ông nhận thấy sự sai khác đáng kể của kết quả thực tế quan sát đối với những kết quả tính toán trong những cuốn lịch thiên văn đương thời (2). Ông giành nhiều thời gian hơn cho thiên văn học và đã nhận thấy vai trò quan trọng của sự chính xác của các dụng cụ khi tiến hành quan sát. Trong khoảng thời gian từ năm 1565 đến 1567, ông tiếp tục du học tại 1 số trường đại học ở Wittenberg và Rostok (nay thuộc Đức). Sau khi quay về gia đình 1 thời gian ngắn, Tycho tiếp tục thực hiện các chuyến đi đến 1 số thành phố của châu Âu (các thành phố nay thuộc Thuỵ Sỹ và Đức). Ông tập trung vào việc cải tiến và thiết kế các dụng cụ quan sát thiên văn. Tại Augsburg, Tycho đã thuyết phục được người đứng đầu thành phố tài trợ việc chế tạo một số dụng cụ thiên văn có kích thước lớn với độ chính xác rất cao.


Tycho Brahe (14/12/1546 – 24/10/1601)

Năm 1570, Tycho quay trở lại Scania. Được sự giúp đỡ của một người chú, Tycho xây dựng một đài quan sát và một phòng thí nghiệm giả kim thuật tại tu viện Harrevard. Ngày 11/11/1572, Tycho nhận thấy 1 “ngôi sao mới” xuất hiện trong chòm Cassiopeia (3). Tycho tập trung nghiên cứu tỷ mỉ “ngôi sao mới” này và đã viết 1 cuốn sách về nó De Nova Stella (Về Ngôi Sao Mới). Từ đó trở đi, các nhà thiên văn gọi “những ngôi sao mới” là “nova”.

Dưới sự bảo trợ của vua Đan Mạch Frederick II, năm 1576, Tycho bắt đầu xây dựng đài thiên văn Uraniborg (Lâu đài của Bầu Trời) tại đảo Hven (nay thuộc Thuỵ Điển). Uraniborg được đánh giá là đài thiên văn lớn nhất vào thời điểm đó. Đến năm 1584, ông lại xây dựng tiếp cạnh Uraniborg đài thiên văn thứ 2 tên là Stjerneborg (Lâu đài của Các Ngôi Sao). Tại hai đài thiên văn này, với các dụng cụ quan sát tốt nhất, Tycho đã “tiến hành những quan sát tốt nhất về các thiên thể mà trước kia chưa hề được thực hiện”.


Bản đồ đài thiên văn Uraniborg

Năm 1577, một sao chổi xuất hiện trên trời. Bằng phương pháp thị sai, Tycho đã kết luận sao chổi này nằm xa Trái Đất hơn Mặt Trăng. Đây là một kết luận quan trọng chỉ ra 1 số sai lầm trong mô hình vũ trụ của Aristotle : sao chổi không phải là thành phần của bầu khí quyển Trái Đất, đồng thời sự bất biến của các thiên cầu cũng bị nghi vấn (vì nếu chúng bất biến thì sao chổi không thể xuyên qua chúng được).

Tycho cũng đã nỗ lực để đo thị sai của các ngôi sao nhưng ông không thu được kết quả. Trái Đất có vẻ như là đứng yên và thiên cầu gắn những vì sao cố định xoay quanh trục Trái Đất. Ngày nay, chúng ta đều biết rằng do khoảng cách từ Trái Đất đến các ngôi sao là rất lớn nên thị sai của chúng đo được bằng cách so sánh kết quả quan sát tại những thời điểm khác nhau trong năm là rất nhỏ, những dụng cụ của Tycho không thể đo được.

Tin tưởng vào những giá trị đo của mình, Tycho đã phủ nhận mô hình Nhật Tâm của Copernicus. Ông đã xây dựng một mô hình vũ trụ (Tychonic system) với các đặc điểm cơ bản sau:
+ Trái Đất cố định ở trung tâm,
+ Mặt Trăng, Mặt Trời chuyển động quanh Trái Đất
+ Sao Thuỷ, Sao Kim, Sao Hoả, Sao Mộc, Sao Thổ chuyển động quanh Mặt Trời
+ Thiên cầu chứa những vì sao chuyển động xung quanh Trái Đất.

Ngày nay, ta đều biết rằng mô hình vũ trụ trên của Tycho là không đúng, tuy nhiên, nó cũng đã được áp dụng phổ biến và được nhiều nhà thiên văn đương thời công nhận. Đặc biệt, sau sự kiện Galileo phải ra tòa án dị giáo và mô hình Nhật tâm của Copernicus bị nhà thờ Thiên chúa giáo phủ nhận, hệ Tycho nhận được sự ủng hộ vì nó chính xác hơn hệ địa tâm của Ptolemy, đồng thời giữ nguyên luận điểm Trái Đất cố định ở trung tâm vũ trụ.


Mô hình vũ trụ của Tycho Brahe

Năm 1588, vua Frederick-II qua đời, vua Christian-IV kế vị. Càng về già, Tycho càng trở nên khó gần và kiêu ngạo. Năm 1597, Tycho bị vua Christian cắt các nguồn trợ cấp. Ông mang theo các thiết bị của mình rời khỏi Đan Mạch.

Năm 1599, Tycho nhận được sự bảo trợ của hoàng đế La Mã Rudolph-II. Ông đến làm việc tại Prague. Tại đây, ông đã nhận Johannes Kepler làm trợ tá. Tuy nhiên, Tycho cũng chỉ sống và làm việc thêm được 2 năm nữa. Trong thời gian này, dựa trên những kết quả quan sát tích luỹ trong hơn 38 năm của mình, Tycho và Kepler bắt đầu việc biên soạn các lịch thiên văn với độ chính xác rất cao và đặt tên là “Các bảng Rudolph” (Rudolphine Tables) (4).

Tycho được đánh giá là nhà thiên văn quan trọng nhất trong thế hệ các nhà thiên văn kế tiếp Copernicus và trước Galileo, Kepler. Ông là người có những quan sát thiên văn chính xác nhất trước khi kính viễn vọng ra đời. Những kết quả quan sát tỉ mỉ về vị trí các hành tinh của ông đã giúp cho Kepler tìm ra 3 định luật nổi tiếng về sự chuyển động của các hành tinh. Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hoả, một tiểu hành tinh (asteroid 1677 Tycho Brahe).

Lược dịch từ bài viết
MacTutor History of Mathematics, Tycho Brahe JOC/EFR, 11/2002, http://turnbull.dcs.st-and.ac.uk/~history/Biographies/Brahe.html
Tham khảo và tra cứu thêm 1 số tài liệu khác.

Ghi chú:
(1) Tycho là tên viết theo tiếng Latin của ông.
(2) Tycho nhận thấy sự sai khác cỡ vài ngày đối với các lịch thiên văn dựa trên mô hình của Copernicus, gần 1 tháng dối với lịch thiên văn dựa trên mô hình của Ptolemy. Tycho, khi đó mới chỉ 17 tuổi, đã nghĩ rằng ông sẽ sửa chữa được những sai sót trên.
(3) “Ngôi sao mới” Tycho quan sát năm 1572 là một vụ nổ supernova cách Trái Đất 7500 năm ánh sáng. Tàn tích của vụ nổ (SN-1572) đã được xác định và tiếp tục quan sát trong thiên văn học hiện đại.
(4) Kepler hoàn thành việc biên soạn “Các bảng Rudolph” vào năm 1627.

Trần Tuấn Tú
Theo TTVNOL

Charles Augustus Young sinh ra tại Hanover, bang New Hampshire trong một gia đình nhà giáo. Khi chỉ mới 14 tuổi, ông đã đủ khả năng học tại trường cao đẳng Dartmouth và tốt nghiệp sau đó 4 năm với vị trí đứng đầu lớp. Là một người sùng đạo, sau khi tốt nghiệp, Young làm nhà truyền giáo trong 1 thời gian ngắn. Năm 1856, ông đến làm việc tại trường cao đẳng Tây Reserve, bang Ohio. Young là giáo sư giảng dạy các môn toán, triết học và thiên văn. Năm 1866, ông chuyển về trường Dartmouth và đến năm 1877 thì trở thành giáo sư thiên văn tại đại học Princeton.


Charles Augustus Young (15/12/1834 – 03/01/1908)

Young là một trong những nhà thiên văn hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu Mặt Trời. Năm 1870, Young đã lần đầu tiên chụp được ảnh tai lửa Mặt Trời. Năm 1873, ông trở thành người đầu tiên sử dụng thành công cách tử nhiễu xạ (diffraction grating) vào mục đích thiên văn và áp dụng nó để đo tốc độ quay của Mặt Trời thông qua việc xác định sự dịch chuyển của các vạch phổ theo hiệu ứng Doppler. Ông tham gia nhiều chuyến viễn du quan sát nhật thực tại nhiều địa điểm khác nhau trên Thế giới và đã thu được nhiều kết quả quan trọng trong việc tìm hiểu, nghiên cứu vùng ngoài của khí quyển Mặt Trời.

Năm 1869, cùng với William Harkness, Young phát hiện ra một vạch mới trong quang phổ của vành nhật hoa. Hai người đã cho rằng đó là dấu hiệu của một nguyên tố hoá học mới chưa được phát hiện trên Trái Đất và đặt tên nó là Coronium. Phải 60 năm sau các nhà khoa học mới phát hiện vạch phổ đó ứng với trạng thái bị ion hoá rất cao của vật chất, trên cơ sở đó dự đoán được nhiệt độ cực cao, đến hàng triệu độ của vành nhật hoa.

Không chỉ là một giáo sư, một nhà nghiên cứu có uy tín, Young là một người rất tích cực trong việc phổ biến khoa học, đặc biệt là thiên văn học ra cộng đồng. Tên ông được đặt cho một tiểu hành tinh (asteroid 2165 Young).

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2008. December 15 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/12/15_12.htm
[2]HAO (High Altitude Observatory) Education Page , 12/2000. Charles A. Young, http://www.astro.umontreal.ca/~paulchar/sp/images/young.html

Trần Tuấn Tú
Theo TTVNOL

Edward Emerson Barnard sinh ra tại Nashville, bang Tennessee, phía nam Hoa Kỳ. Cha ông qua đời trước khi ông sinh ra, Barnard lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn và phải đi làm từ khi mới 9 tuổi, không có nhiều điều kiện học tập. Ngoài công việc chính là thợ nhiếp ảnh, Barnard còn nghiên cứu thiên văn một cách nghiệp dư. Trong giai đoạn đầu những năm 1880, Barnard đã tìm ra 8 sao chổi và trở nên rất nổi tiếng trong giới thiên văn nghiệp dư ở Nashville. Số tiền được thưởng vì những phát hiện của mình đủ để Barnard xây được 1 ngôi nhà cho ông và người vợ trẻ. Năm 1887, ông tham gia công tác quản lý tại đài thiên văn Lick.


Edward Emerson Barnard (16/12/1857 – 06/02/1923)

Năm 1892, Barnard phát hiện ra sự phát khí của của các tàn dư nova, từ đó kết luận rằng chúng thực chất là các vụ nổ sao. Cũng trong năm đó, ông phát hiện ra Amathea, vệ tinh thứ 5 của Sao Mộc. Đây thật sự là một phát hiện ấn tượng vì gần 300 năm sau phát hiện năm 1610 của Galileo, các nhà thiên văn mới tiếp tục phát hiện thêm vệ tinh của hành tinh này. Amalthea cũng là vệ tinh tự nhiên cuối cùng được tìm ra bằng các quan sát trực tiếp (không phải dựa trên việc phân tích các ảnh chụp từ các kính thiên văn hoặc các tàu vũ trụ).

Năm 1895, Barnard được bổ nhiệm làm giáo sư thiên văn tại đại học Chicago. Năm 1916, ông phát hiện ra ngôi sao có chuyển động riêng nhanh nhất trên thiên cầu (1). Barnard đã quan sát và vẽ lại rất chi tiết bản đồ Sao Hoả, từ đó bác bỏ các giả thiết về sự tồn tại kênh đào trên hành tinh đỏ. Barnard tìm ra phương pháp chụp ảnh trường rộng để khảo sát cấu trúc của Ngân Hà. Cùng với Max Wolf, ông khám phá ra “vùng tối” của Ngân Hà đối với người quan sát từ Trái Đất thực chất là do các đám khí bụi che ánh sáng từ những ngôi sao phía sau. Ông còn là tác giả của danh mục tinh vân tối (dark nebula) (2)

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hoả, một tiểu hành tinh (asteroid 819 Barnardiana), một khu vực trên vệ tinh Ganymede (Barnard Regio), một ngôi sao (Barnard’s star).

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2008. December 16 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/12/16_12.htm
[2]Wikipedia, 12/2008. Edward Emerson Barnard, http://en.wikipedia.org/wiki/Edward_Emerson_Barnard
[3]JST, 2008-12-08. The Bruce Medalists, Edward Emerson Barnard, http://www.phys-astro.sonoma.edu/BruceMedalists/Barnard/index.html

Ghi chú

(1) Banard’s star, sao lùn đỏ thuộc chòm Ophiuchus, cách Trái Đất khoảng 6 năm ánh sáng. Vận tốc riêng trên thiên cầu của Banard’s star khoảng 10.2 arcseconds/năm.

(2) Tinh vân tối (dark nebula) là các đám khí và bụi dày đặc, che kín ánh sáng phát ra từ tinh vân hoặc các ngôi sao phía sau. Danh mục của Barnard bao gồm 366 tinh vân tối (Barnard-1 đến Barnard-366).

Trần Tuấn Tú
Theo TTVNOL

Ngày 06/01/1949, chiếc đồng hồ nguyên tử đầu tiên của Thế Giới được đưa vào vận hành tại Nha Tiêu chuẩn Quốc gia Hoa Kỳ - National Bureau of Standards (nay là Viện Tiêu chuẩn và Kỹ thuật Quốc gia Hoa Kỳ - National Institute of Standards and Technology). Về mặt lý thuyết, các đồng hồ nguyên tử hoạt động dựa trên quá trình đo các đặc tính từ trường của hạt nhân nguyên tử bằng phương pháp cộng hưởng (resonance method for recording the magnetic properties of atomic nuclei) của Isidor Isaac Rabi (giải Nobel Vật Lý năm 1944).


Ảnh: chiếc đồng hồ nguyên tử đầu tiên của Thế Giới (NIST – 1949)

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 07/01/1610, Galileo đã phát hiện ra 3 trong số 4 vệ tinh thuộc nhóm vệ tinh Galileo của Sao Mộc: Io, Europa và Callisto. Sau đó một ngày, ông phát hiện ra vệ tinh còn lại: Ganymede [1, trang 8]

« Khi năm mới bắt đầu, Galilê khám phá ra một điều làm cả thế giới kinh ngạc. Vào ngày 7 tháng một năm 1610, ông hướng kính viễn vọng lên Sao Mộc. Nó lớn thành một quả cầu nhỏ. (Những ngôi sao không lớn được như thế. Ngay cả với kính viễn vọng hiện đại nhất, chúng vẫn chỉ là các điểm sáng mà thôi). Hình ảnh gây ấn tượng tức khắc cho Galilê là ba ngôi sao nhỏ ông nhìn thấy bên cạnh Sao Mộc (đêm sau, ông nhìn thấy bốn ngôi sao). Ông quan sát chúng hết đêm này đến đêm khác, và chẳng bao lâu rõ ràng thấy chúng chuyển động xung quanh Sao Mộc.


Ảnh: Bài viết của Galileo trên báo Sidereus Nuncius (Tín sứ của các ngôi sao) tháng 3 năm 1610 thông báo về việc phát hiện ra các thiên thể chuyển động xung quanh Sao Mộc (Bản dịch tiếng Anh của bài viết trên có thể tham khảo tại tài liệu [2])

Có bốn mặt trăng nhỏ bé chuyển động xung quanh Sao Mộc giống như Mặt Trăng của chúng ta chuyển động xung quanh Trái Đất.

Đây là dẫn chứng cho biết Arixtôt và Ptôlêmê đều sai rõ ràng. Họ đã nói rằng mọi vật trên trời chuyển động xung quanh Trái Đất cơ mà. Không kể đến ai có thể nói gì về Mặt Trăng, Mặt Trời và các hành tinh, chỉ riêng bốn thiên thể nhỏ bé này cũng chuyển động xung quanh Sao Mộc đấy !

Galilê gọi chúng là Sidera Medicea (« Những ngôi sao Mêđixi theo tên của Côximô Mêđixi II, đại công tước của Tôxcan, là người Galilê đợi sẽ giao cho ông một việc làm (sau đó, Galilê nhận được việc làm). Tuy vậy, các thế hệ sau đã quyết định rằng niềm vinh dự đó đặt vào nhầm người. Khi Kêplơ nghe về những vật thể mới ấy, ông gọi chúng là các vệ tinh, cho nên bốn Mặt Trăng của Sao Mộc khi được gộp thành một nhóm thì được gọi là nhóm vệ tinh Galilê.

Từ vệ tinh hiện giờ được dùng để chỉ bất kỳ thiên thể nào – hoặc thậm chí cả vật thể do con người làm ra – chuyển động xung quanh một hành tinh. Các vệ tinh chuyển động theo một hành tinh, nói một cách khác là « hộ tống » nó, trong khi hành tinh chuyển động xung quanh Mặt Trời. Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất. Các vệ tinh cũng được gọi là « các mặt trăng », nhưng thường gọi là « các vệ tinh » để cho rõ ràng hơn, còn chữ « Mặt Trăng » là để dành cho vệ tinh riêng của Trái Đất.

Các vệ tinh Galilê đều là những thiên thể rất lớn. Hai vệ tinh ở gần Sao Mộc hơn thì hầu như lớn bằng Mặt Trăng của chúng ta (vốn có đường kính 3450 km). Hai vệ tinh ở ngoài thật sự lớn hơn Mặt Trăng của chúng ta, thậm chí còn lớn hơn cả hành tinh Sao Thủy nữa.

Các vệ tinh Galilê đã được đặt tên theo những nhân vật trong thần thoại Hy Lạp vốn có liên hệ chặt chẽ với Jupite (tức Zơt, đều là tên của Sao Mộc theo tiếng La tinh hoặc Hy Lạp). Người làm việc này là nhà thiên văn Đức Ximon Mariut, người khám phá ra các vệ tinh đó chỉ một ngày (!) sau Galilê. Vệ tinh gần Sao Mộc nhất được gọi là Iô, rồi tới Ơrôpa, Ganimet (vệ tinh lớn nhất) và Calixtô. Đôi khi, chúng được gọi tên theo số: Jupite I, Jupite II, Jupite III và Jupite IV. » [3, trang 82, 83]

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/

[2] Calvin J. Hamilton, 1995-2005 . Views of the Solar System,
http://www.solarviews.com/cap/jup/manuscr1.htm

http://www.solarviews.com/cap/jup/manuscr2.htm

[3] Isaac Asimov, 1966. Hệ Mặt Trời, người dịch Đắc Lê, NXB Khoa Học và Kỹ Thuật, 1980

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày này năm xưa