Ngày 06/02/1971, phi công vũ trụ Hoa Kỳ Alan Shepard đã thực hiện "những cú đánh golf đầu tiên trên Mặt Trăng".[1] Tàu Apollo 14 được phóng đi từ ngày 31/01, module đổ bộ đáp xuống Mặt Trăng ngày 05/02. Hai nhà du hành Alan B. Shepard và Edgar D. Mitchell đã ở trên Mặt Trăng trong 33.5 tiếng, thực hiện 2 lần các hoạt động ngoài phi thuyền (EVA) với thời gian tổng cộng là 17 tiếng.[2] Trước khi rời khỏi Mặt Trăng, Shepard đã thực hiện tổng cộng 6 lần đánh golf, trong đó có 1 cú thành công, bóng bay vào 1 crater cách đó 10 mét, Mitchell cũng ném 1 cây lao "tự chế". Nhà du hành thứ 3 của Apollo 14 vẫn ở trên module điều khiển là Stuart A. Roosa


Ảnh: Shepard và cú đánh golf thứ 3 trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]. Mark Wade, 1997 – 2007. Apollo 14[/b], [i]http://astronautix.com/flights/apollo14.htm

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày sinh kỹ sư không gian, phi công vũ trụ Liên Xô Konstantin Petrovich Feoktistov (07/02/1926 - 21/11/2009)

Konstaintin Petrovich Feoktistov sinh ra tại thành phố Voronezh, tây nam nước Nga. Thế chiến thứ II nổ ra, Feoktistov tham gia chiến đấu chống quân phát xít Đức khi mới chỉ 16 tuổi. Trong một nhiệm vụ trinh sát, ông bị quân Đức bắt và đem bắn. Rất may là mặc dù viên đạn xuyên qua cằm và cổ nhưng đã không giết chết Feoktistov. Sau đó ông đã tìm về lại được với Hồng Quân.


Ảnh: Konstantin Petrovich Feoktistov (07/02/1926 - 21/11/2009)

Chiến tranh kết thúc, Feoktistov tiếp tục học và trở thành kỹ sư vào năm 1949, sau đó ông bảo vệ thành công luận án tiến sỹ Vật lý. Năm 1955, Feoktistov bắt đầu làm việc trong lĩnh vực hàng không vũ trụ. Ông đã tham gia vào các dự án Sputnik, Vostok, Voskhod và Soyuz dưới sự chỉ đạo của Sergey Korolyov. Ông cũng được huấn luyện thành một phi công vũ trụ và đã tham gia vào chuyến bay ngày 12/10/1964 trên tàu Voskhod-1 (chuyến bay đầu tiên của tàu vũ trụ có nhiêù người lái). Tàu Voskhod-1 đã bay tổng cộng 16 vòng quanh Trái Đất trong thời gian 1 ngày 17 phút.

Sau Voskhod-1, Feoktistov không thực hiện thêm chuyến bay vũ trụ nào nữa vì lý do sức khoẻ. Ông tiếp tục làm việc trong ngành hàng không vũ trụ, giữ vai trò lãnh đạo trong việc thiết kế các trạm không gian Salyut và Mir. Sau khi nghỉ hưu năm 1990, ông là giáo sư giảng dạy tại trường Kỹ thuật Bauman, Mat-xcơ-va.

Tên ông được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 – 2010. FEBRUARY 7 - BIRTHS, DEATHS, EVENTS, http://www.todayinsci.com/2/2_07.htm
[2]. Wikipedia, 01/2010. Konstantin Feoktistov, http://en.wikipedia.org/wiki/Konstantin_Petrovich_Feoktistov

-----

Ngày 07/02/1984, trong nhiệm vụ STS-41-B (tàu Challenger), hai phi công vũ trụ Hoa Kỳ Bruce McCandless II và Robert L. Stewart đã thử nghiệm thành công thiết bị di chuyển có điều khiển (Manned Maneuvering Unit, MMU). Đây là thiết bị phản lực gắn sau lưng cho phép con người có thể di chuyển ngoài không gian mà không cần dây nối với phi thuyền mẹ. McCandless đã trở thành người đầu tiên "bay tự do" ngoài không gian với khoảng cách xa nhất đối với tàu con thoi lên tới 98 mét (ông cũng là người đã tham gia vào quá trình thiết kế và chế tạo MMU).

Tuy nhiên, vì lý do an toàn nên MMU chỉ được sử dụng trong tổng cộng 3 nhiệm vụ với tàu con thoi năm 1984 (STS-41-B, STS-41-C, STS-51-A). Hiện nay, phiên bản nhỏ hơn của MMU là SAFER (Simplified Aid for EVA Rescue) được trang bị cho các nhà du hành như một thiết bị cứu trợ khi thực hiện các hoạt động ngoài không gian (có dây nối) trên trạm ISS.

Một số hình ảnh của McCandless và Stewart trong nhiệm vụ STS-41-B:





Ảnh: McCandless


Ảnh: Stewart

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 – 2010. FEBRUARY 7 - BIRTHS, DEATHS, EVENTS, http://www.todayinsci.com/2/2_07.htm
[2]. Wikipedia, 01/2010. Manned Maneuvering Unit, http://en.wikipedia.org/wiki/Manned_Maneuvering_Unit

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Skylab là trạm không gian đầu tiên và duy nhất tính đến thời điểm này do Hoa Kỳ độc lập chế tạo và sử dụng. Trạm có chiều dài 36.12 m, đường kính chỗ lớn nhất 6.58 m, thể tích không gian làm việc của phi hành đoàn : 361 mét khối, tổng khối lượng khi phóng là 76.295 tấn. Skylab chuyển động trên quỹ đạo mà điểm cao nhất cách mặt đất 439 km, điểm thấp nhất cách mặt đất 427 km. Trạm không gian bay 1 vòng quanh Trái Đất hết 93.4 phút. Để đưa phi hành đoàn lên làm việc tại Skylab, Hoa Kỳ sử dụng command/service module (CSM) của các tàu Apollo.

Skylab được phóng thành công lên quỹ đạo ngày 14/05/1973. Tổng cộng đã có 3 chuyến bay đưa các nhà du hành lên làm việc tại Skylab. Thành viên của mỗi chuyến bay bao gồm 3 người.

(Ký hiệu nhiệm vụ; phi hành đoàn; ngày phóng - ngày hạ cánh; thời gian làm việc trên trạm)

+ SL2, Pete Conrad, Paul Weitz và Joseph Kerwin; 25/05/1973 - 22/06/1973; 28.3 ngày

+ SL3, Alan Bean, Jack Lousma và Owen Garriott; 28/07/1973 – 25/09/1973; 59.46 ngày

+ SL4, Gerald Carr, William Pogue và Edward Gibson; 16/11/1973 – 08/02/1974; 84.04 ngày


Ảnh: Skylab 4 trên quỹ đạo (chụp bởi các nhà du hành sau khi rời khỏi trạm)

Phi hành đoàn SL4 đã bay 1214 vòng quanh Trái Đất, thực hiện nhiều thí nghiệm y học, quan sát Mặt Trời, tài nguyên Trái Đất và sao chổi Kohoutek. Sau khi phi hành đoàn SL4 rời khỏi Skylab, trạm không gian vẫn tiếp tục ở trên quỹ đạo cho đến khi rơi trở lại vào bầu khí quyển ngày 11/07/1979. Tổng cộng Skylab đã ở trên quỹ đạo 2249 ngày (trong đó 171 ngày có phi hành đoàn), bay được 34981 vòng xung quanh Trái Đất.


Ảnh:Phù hiệu SL4

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 - 2007. February 8 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_08.htm
[2]. Wikipedia, 07/2008. Skylab, http://en.wikipedia.org/wiki/Skylab

Hero_Zeratul
ttvnol.com

James Melville Gilliss sinh ra tại Georgetown, Washington D. C. Ông gia nhập hải quân Hoa Kỳ khi mới chỉ 15 tuổi. Sau một thời gian làm việc trên các chiến hạm, năm 1831, Gilliss tiếp tục quá trình học tập tại trường đại học Virgina và tại Paris. Năm 1836, ông được bổ nhiệm làm trợ tá tại kho bản đồ và dụng cụ của hải quân. Năm 1837, Gilliss tham gia vào chuyến thám hiểm do thuyền trưởng Charles Wilkes chỉ huy. Trong chuyến đi này, ông đảm nhận việc đo đạc kinh độ dựa vào vị trí của Mặt Trăng, khảo sát thời tiết và nghiên cứu từ trường. Ông là nhà thiên văn Hoa Kỳ đầu tiên xuất bản các kết quả quan sát và xây dựng bản đồ sao. Năm 1838, Gilliss được phong hàm đại úy hải quân.


Ảnh: James Melville Gilliss (06/09/1811 – 09/02/1865)

Tháng 8 năm 1842, quốc hội Hoa Kỳ đã quyết định nâng cấp kho bản đồ và dụng cụ của hải quân thành đài thiên văn quốc gia và Gilliss được ủy nhiệm là trưởng dự án. Ông đã tham khảo ý kiến của các nhà thiên văn Hoa Kỳ đồng thời có một chuyến công tác sang châu Âu để thu thập sách vở, mua và học cách sử dụng các thiết bị thiên văn. 18 tháng sau khi Gilliss quay trở lại Hoa Kỳ, quá trình xây dựng và trang bị cho đài thiên văn cùng với thư viện của nó đã được hoàn thành. Với những đóng góp trên, Gilliss được tôn vinh là người sáng lập ra đài thiên văn Hải quân Hoa Kỳ.

Nhiệm vụ quản lý đài thiên văn sau đó được trao cho Matthew F. Maury, Gilliss tiếp tục thực hiện quá trình khảo sát bờ biển Hoa Kỳ và hiệu chỉnh lại các bảng vị trí Mặt Trăng của ông đã được công bố trước đó. Từ năm 1848 đến năm 1861, Gilliss đã tiến hành rất nhiều các quan sát, đo đạc thiên văn không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở 1 số nước khác như Chi Lê, Peru. Ông tham gia vào quá trình xây dựng đài thiên văn quốc gia Chi Lê.

Từ năm 1861, Gilliss quay trở lại với công tác quản lý đài thiên văn Hải quân. Dưới sự lãnh đạo của ông, đài thiên văn Hải quân đã phát triển trở thành một trong những đài thiên văn hiện đại nhất thời bấy giờ. Gilliss cũng là một trong những thành viên đầu tiên của viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 9 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_04.htm
[2] Evisum Inc, Copyright© 2000. Virtual American Biographies, James Melville Gilliss, http://www.famousamericans.net/jamesmelvillegilliss/
[3] Wikipedia, 1/2008. [b]James Melville Gilliss, http://en.wikipedia.org/wiki/James_Melville_Gilliss

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 11/02/1970, Nhật Bản đã phóng thành công vệ tinh đầu tiên: Osumi 5 [1]. Với sự kiện trên, Nhật Bản đã trở thành nước thứ 4 trên thế giới phóng vệ tinh vào vũ trụ (sau Liên Xô, 1957; Hoa Kỳ, 1958; Pháp, 1965). Osumi nặng 24 kg, sử dụng tên lửa đẩy Lambda 4S, có nhiệm vụ thám hiểm tầng trên của khí quyển. Trước Osumi 5, Nhật Bản đã thất bại tổng cộng 4 lần trong việc phóng vệ tinh.


Ảnh: Tên lửa Lambda 4S

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 11 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_11.htm

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 12/02/2001, tàu thám hiểm NEAR-Shoemaker đã đổ bộ xuống bề mặt tiểu hành tinh Eros [1]. Được phóng đi từ ngày 17/02/1996, NEAR-Shoemaker đã tiếp cận Eros vào giai đoạn cuối năm 1998, đầu 1999. Tháng 2 năm 2000, NEAR-Shoemaker bắt đầu thâm nhập vào quỹ đạo xung quanh Eros, sau đó 1 năm, ngày 12/02/2001, tàu thám hiểm đã hạ cánh mềm thành công xuống bề mặt tiểu hành tinh. Sau khi đổ bộ, NEAR-Shoemaker còn tiếp tục hoạt động cho đến ngày 2802/2001.[2]


Ảnh: NEAR-Shoemaker nằm trong tên lửa Delta II

NEAR-Shoemaker là dự án đầu tiên thực hiện việc phóng tàu thám hiểm nghiên cứu các tiểu hành tinh gần Trái Đất (Near Earth Asteroid Rendezvous). Đây cũng là thiết bị nhân tạo đầu tiên của con người hạ cánh thành công xuống bề mặt một tiểu hành tinh [2]


Ảnh: NEAR-Shoemaker tiếp cận Eros

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]. JHUAPL. NEAR Fact Sheet, near.jhuapl.edu/media/NEAR_fact_sheet.pdf

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Dreyer sinh ra ở Copenhagen, năm 22 tuổi, ông đi sang Ireland làm phụ tá cho Lawrence Parsons, bá tước đời thứ 4 vùng Rosse, năm 1878, ông làm việc tại đài thiên văn Dunsink, năm 1882, ông làm giám đốc đài thiên văn Armagh cho đến năm 1916.


Ảnh: Johan Ludvig Emil Dreyer (13/02/1852 – 14/09/1926)[1]

Đóng góp to lớn nhất của Dreyer cho Thiên văn học, đó là việc ông biên soạn "Danh mục tổng quan về các Tinh vân và Nhóm sao" (New General Catalogue of Nebulae and Clusters of Stars, (NGC)) vào năm 1888. Danh mục này chứa 7840 thiên thể. Dreyer còn biên soạn thêm hai bảng danh mục (Index Catalogue – IC 1 và 2) bổ xung thêm 5386 thiên thể vào các năm 1895, 1908 [2].

Dreyer cũng là một nhà viết sử thiên văn học. Năm 1890, ông hoàn thành bản tiểu sử Tycho Brahe. Năm 1905, ông hoàn thành tác phẩm "Lịch sử Hệ mặt trời từ Thales đến Kepler" (History of the Planetary Systems from Thales to Kepler), sau đổi tên thành «Lịch sử Thiên văn học từ Thales đến Kepler» (History of Astronomy from Thales to Kepler)[2]

Tên của ông được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 11 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_11.htm
[2]Wikipedia, 2/2007. [b]John Dreyer, http://en.wikipedia.org/wiki/Johan_Ludvig_Emil_Dreyer

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ông là người đề xuất ra rất nhiều giả thiết nổi tiếng ngày nay đang được ứng dụng để nghiên cứu vũ trụ như: sự tồn tại của vật chất tối, nguyên nhân và quá trình xảy ra supernova, ... [2]


Ảnh: Fritz Zwicky (14/02/1898 – 08/02/1974) [1]

Zwicky sinh ra ở Bulgari, học toán và vật lý tại Học viện Kỹ Thuật liên bang Thụy Sĩ. Năm 1925, ông di cư sang Hoa Kỳ và làm việc tại Học viện Kỹ thuật California (Caltech). Năm 1933, Zwicky cùng với Walter Baade đã dự đoán sự tồn tại của vật chất tối khi nghiên cứu cụm thiên hà Coma. Năm 1934 , Zwicky và Baade đã giải thích về mặt lý thuyết nguyên nhân và quá trình hình thành supernova. Zwicky đã tìm và nghiên cứu hơn 120 supernova để bảo vệ lý thuyết của mình. Năm 1937, ông đưa ra nhận xét rằng các cụm thiên hà có thể được sử dụng như những «thấu kính hấp dẫn». Năm 1972, ông hoàn thiện «Danh mục các Thiên hà và Cụm thiên hà» (Catalogue of Galaxies and of Clusters of Galaxies (CGCG)). [2]

Tên ông được đặt cho một tiểu hành tinh (1803 Zwicky), một crater trên Mặt Trăng và một thiên hà (I Zwicky 18) [2]

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 14 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_14.htm
[2]Wikipedia, 2/2007. [b]Fritz Zwicky, http://en.wikipedia.org/wiki/Fritz_Zwicky

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Galileo sinh ra tại thành phố Pisa, vùng Tuscany, nay thuộc miền trung nước Italy. Cha ông là một nhạc sĩ nổi tiếng. Khi còn thiếu niên, Galileo đã có những công trình xuất sắc trong lĩnh vực vật lý. Quan sát chùm đèn treo của nhà thờ Pisa khi đang tham dự một buổi lễ, ông đã khám phá ra nguyên lý hoạt động của con lắc. Theo ý muốn của cha, ban đầu Galileo đăng ký học chuyên ngành dược tại đại học Pisa. Tuy nhiên, ông đã bỏ dở chương trình học và chuyển sang học toán. Năm 1589, ông được bổ nhiệm làm giáo sư toán học của trường. Từ năm 1592 đến năm 1610, Galileo chuyển đến và làm việc tại đại học Padua, giảng dạy các môn địa lý, cơ học và thiên văn học.


Ảnh: Galileo Galilei (15/02/1564 – 08/01/1642)

Trong khoảng thời gian tại đại học Padua, Galileo đã nghiên cứu và có nhiều phát minh trong lĩnh vực cơ học. Ông đã làm thí nghiệm chứng minh tốc độ rơi không phục thuộc vào trọng lượng của vật và được tôn vinh là « cha đẻ của nền khoa học thực nghiệm ». Sau khi nghe tin về « chiếc ống làm cho các vật ở xa hiện lại gần » của Hans Lippershey (năm 1608), « ông bắt đầu những thí nghiệm về các thấu kính của riêng ông và trong vòng sáu tháng đã chế tạo được một chiếc ống còn tốt hơn chiếc ống của Lippershey. Chiếc ống này là kính viễn vọng, có nghĩa là một dụng cụ để nhìn xa ».

« Ông thực hiện một việc lớn lao với kính viễn vọng của ông. Ông không chú ý đến nó về phương diện là một vũ khí chiến tranh hoặc về phương diện buôn bán kiếm lời. Ông hướng nó lên trời! »


Ảnh: Một trong những chiếc kính thiên văn của Galileo

Với chiếc kính này, Galileo đã tìm ra 4 vệ tinh của Sao Mộc; quan sát các pha của Sao Kim; phát hiện các ngọn núi và các crater trên Mặt Trăng; chứng minh dải Ngân Hà bao gồm hàng triệu ngôi sao không thể đếm được, rất nhiều và ở rất xa; quan sát Sao Thổ (Galileo đã thấy Sao Thổ có “hai cái bướu” nhô lên nhưng chiếc kính của ông không đủ mạnh để có thể nhận ra vành đai Sao Thổ); quan sát các vết đen của Mặt Trời. Galileo đã xuất bản tờ báo « Tín sứ của các ngôi sao » (Sidereus Nuncius), trong đó ông công bố những phát hiện của mình.

Năm 1611, Galileo đến Roma, gia nhập viện hàm lâm Lincei. Galileo là người ủng hộ và góp phần quan trọng trong việc phổ biến thuyết Nhật Tâm của Copernicus. Năm 1612, cuộc chiến chống lại thuyết Nhật Tâm của Copernicus do nhà thờ phát động đã bùng nổ. Galileo đã phải chịu nhiều chỉ trích cũng như tố cáo từ giới tu sĩ. Tuy nhiên, Galileo vẫn giữ vững những quan điểm của mình và tiếp tục viết nhiều tác phẩm phủ nhận thuyết Địa Tâm. Năm 1632, Galileo cho xuất bản một tác phẩm lớn của ông, tên là « Đối thoại về hai hệ thống chính của vũ trụ » (Dialogo sopra i due massimi sistemi del mondo), trong đó có 3 nhân vật thảo luận về vũ trụ. Một người đưa ra câu hỏi, tìm kiếm kiến thức. Hai người còn lại, một người theo Ptolemy, một người theo Copernicus, người nào cũng trình bày các lý lẽ của mình. Tất nhiên Galileo để cho người theo Copernicus thắng thế ». Cuốn sách đã gây ra « một cuộc bùng nổ giận dữ » ở La Mã, kẻ thù của Galileo thuyết phục giáo hoàng hành động, thế là Galileo bị gọi ra tòa án dị giáo. Ngày 22/06/1633, ông già đó (đã 69 tuổi) bắt buộc phải quỳ gối và phủ nhận thuyết Copernicus là đúng, tức là phủ nhận Trái Đất chuyển động. Rồi Galileo được về nhà (vùng Arcetri, Florence), sống lặng lẽ trong hơn 8 năm cuối cùng, không gây chuyện rắc rối, hoặc không bị mắc vào chuyện rắc rối. Ông qua đời ngày 8 tháng một năm 1642. Hiện nay, ông được an táng tại nhà thờ Basilica di Santa Croce, Florence.

Có một giai thoại nói rằng khi Galileo ra trước tòa án dị giáo, ông giậm chân xuống đất và lẩm bẩm « Nhưng dù sao Trái Đất vẫn chuyển động ». Mặc dù đó chỉ là một giai thoại, không thể khẳng định là chính xác hay không, nhưng chắc chắn những lời đó đã được hầu hết các nhà thiên văn và học giả châu Âu thét to lên.

Bài viết được tổng hợp từ một số tài liệu trên Internet, có trích dẫn một số đoạn trong cuốn sách: Hệ Mặt Trời của tác giả Isaac Asimov, dịch giả Đắc Lê, do NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội xuất bản năm 1980.


Ngày sinh nhà thiên văn học Hoa Kỳ William Henry Pickering (15/02/1858 – 17/01/1938).


Ảnh: William Henry Pickering (15/02/1858 – 17/01/1938)

William Henry Pickering sinh ra tại thành phố Boston, bang Massachusetts, đông bắc Hoa Kỳ. Ông là em ruột của nhà thiên văn Edward Charles Pickering (1). Năm 1891, W.H.Pickering theo anh đến Peru để thiết lập trụ sở của đài thiên văn Harward. Hai năm sau, ông quay trở lại Hoa Kỳ và tham gia quá trình xây dựng đài thiên văn tại Texas của Percival Lowell (nơi Clyde Tombaugh đã tìm ra Sao Diêm Vương). Năm 1899, Pickering phát hiện Phoebe, vệ tinh thứ 9 của Sao Thổ. Đây là vệ tinh đầu tiên được phát hiện dựa vào việc phân tích dữ liệu trên các bức ảnh chụp. 6 năm sau, W.H.Pickering tiếp tục công bố sự tồn tại của 1 vệ tinh khác của Sao Thổ và đặt tên là Themis. Tuy nhiên, sau đó, các nhà thiên văn đã xác nhận W.H.Pickering đã nhầm lẫn, vệ tinh này không hề tồn tại.

W.H.Pickering đã tham gia chỉ đạo nhiều chuyến quan sát nhật thực. Ông cũng tập trung nghiên cứu các crater của Mặt Trăng. Quan sát sự thay đổi của crater Eratosthenes, ông đưa ra giả thiết trên Mặt Trăng có côn trùng. W.H.Pickering còn khẳng định sự tồn tại thực vật trên Mặt Trăng (tất nhiên, ngày nay ta biết rằng những giả thiết và khẳng định trên của ông là không đúng). Ông cũng đã dành rất nhiều thời gian cho việc tìm kiếm « hành tinh X » dựa trên những nhiễu động trong quỹ đạo Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương nhưng không thu được thành công. Năm 1903, W.H.Pickering xuất bản cuốn atlas Mặt Trăng bằng ảnh chụp (The Moon : A Summary of the Existing Knowledge of our Satellite).Trong những năm cuối đời, ông sống và làm việc chủ yếu ở Jamaica, tại một đài thiên văn do ông xây dựng.

Tên của ông và anh trai (Edward Charles Pickering) được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 15 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_15.htm
[2]Wikipedia, 12/2006. William Henry Pickering, http://en.wikipedia.org/wiki/William_Henry_Pickering

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày sinh nhà thiên văn học Hoa Kỳ William Henry Pickering (15/02/1858 – 17/01/1938).



Ảnh: William Henry Pickering (15/02/1858 – 17/01/1938)


William Henry Pickering sinh ra tại thành phố Boston, bang Massachusetts, đông bắc Hoa Kỳ. Ông là em ruột của nhà thiên văn Edward Charles Pickering (1). Năm 1891, W.H.Pickering theo anh đến Peru để thiết lập trụ sở của đài thiên văn Harward. Hai năm sau, ông quay trở lại Hoa Kỳ và tham gia quá trình xây dựng đài thiên văn tại Texas của Percival Lowell (nơi Clyde Tombaugh đã tìm ra Sao Diêm Vương). Năm 1899, Pickering phát hiện Phoebe, vệ tinh thứ 9 của Sao Thổ. Đây là vệ tinh đầu tiên được phát hiện dựa vào việc phân tích dữ liệu trên các bức ảnh chụp. 6 năm sau, W.H.Pickering tiếp tục công bố sự tồn tại của 1 vệ tinh khác của Sao Thổ và đặt tên là Themis. Tuy nhiên, sau đó, các nhà thiên văn đã xác nhận W.H.Pickering đã nhầm lẫn, vệ tinh này không hề tồn tại.

W.H.Pickering đã tham gia chỉ đạo nhiều chuyến quan sát nhật thực. Ông cũng tập trung nghiên cứu các crater của Mặt Trăng. Quan sát sự thay đổi của crater Eratosthenes, ông đưa ra giả thiết trên Mặt Trăng có côn trùng. W.H.Pickering còn khẳng định sự tồn tại thực vật trên Mặt Trăng (tất nhiên, ngày nay ta biết rằng những giả thiết và khẳng định trên của ông là không đúng). Ông cũng đã dành rất nhiều thời gian cho việc tìm kiếm « hành tinh X » dựa trên những nhiễu động trong quỹ đạo Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương nhưng không thu được thành công. Năm 1903, W.H.Pickering xuất bản cuốn atlas Mặt Trăng bằng ảnh chụp (The Moon : A Summary of the Existing Knowledge of our Satellite).Trong những năm cuối đời, ông sống và làm việc chủ yếu ở Jamaica, tại một đài thiên văn do ông xây dựng.

Tên của ông và anh trai (Edward Charles Pickering) được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 15 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_15.htm
[2]Wikipedia, 12/2006. William Henry Pickering, http://en.wikipedia.org/wiki/William_Henry_Pickering

Langley sinh ra ở Roxbury, Boston, bang Massachusetts. Từ năm 1865 đến năm 1866, ông làm việc tại đài thiên văn Harvard. Năm 1866, ông chuyển đến giảng dạy toán học Học viện Hải Quân Hoa Kỳ. Năm sau, ông được bổ nhiệm làm giám đốc đài thiên văn Allegheny tại Pittsburg. Langley đảm nhiệm chức vụ này cho đến năm 1887. Từ năm 1887 cho đến cuối đời, ông làm công tác quản lý tại viện Smithsonian, Washington, D.C.

Ngày này năm xưa