Ngày 24/08/2006, phiên bế mạc kỳ họp thứ 26 của Đại hội đồng (General Assembly) Hiệp hội thiên văn quốc tế (International Astronomical Union, IAU) đã thông qua quyết định (resolution) mới về «định nghĩa hành tinh». Nội dung quyết định này đã nêu rõ định nghĩa về "hành tinh" và "hành tinh lùn":

(1) A "planet" is a celestial body that (a) is in orbit around the Sun, (b) has sufficient mass for its self-gravity to overcome rigid body forces so that it assumes a hydrostatic equilibrium (nearly round) shape, and (c) has cleared the neighbourhood around its orbit.

(2) A "dwarf planet" is a celestial body that (a) is in orbit around the Sun, (b) has sufficient mass for its self-gravity to overcome rigid body forces so that it assumes a hydrostatic equilibrium (nearly round) shape, (c) has not cleared the neighbourhood around its orbit, and (d) is not a satellite


Tạm dịch:


(1): Hành tinh là thiên thể thỏa mãn các điều kiện sau: (a) chuyển động xung quanh Mặt Trời, (b) có khối lượng đủ lớn sao cho có dạng gần như hình cầu nhờ vào lực hấp dẫn của chính bản thân, và (c) quét sạch vùng không gian xung quanh quỹ đạo của nó

(2): Hành tinh lùn là thiên thể thỏa mãn các điều kiện sau: (a) chuyển động xung quanh Mặt Trời, (b) có khối lượng đủ lớn sao cho có dạng gần như hình cầu nhờ vào lực hấp dẫn của chính bản thân, (c) không quét sạch vùng không gian xung quanh quỹ đạo của nó và (d) không phải là một vệ tinh

Theo định nghĩa như trên, Hệ Mặt Trời có 8 hành tinh: Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương; 3 hành tinh lùn: Ceres, Sao Diêm Vương và Eris (trước có tên tạm là 2003 UB313, tên chính thức Eris được chấp nhận vào ngày 13/09/2006). Cả 3 hành tinh lùn đều không thỏa mãn điều kiện (c) : “quét sạch vùng không gian xung quanh quỹ đạo”. Ceres thuộc về vành đai tiểu hành tinh giữa Sao Hỏa và Sao Mộc, Sao Diêm Vương thuộc về vành đai Kuiper, Eris thuộc về vùng không gian có tên là Scattered disc.

Kể từ tháng 8/2006 đến nay (08/2010), đã có thêm 2 thiên thể nữa của hệ Mặt Trời đủ điều kiện "hành tinh lùn": Makemake và Haumea.


Ảnh: Các hành tinh và hành tinh lùn (tính đến tháng 8/2006) theo định nghĩa mới của IAU

Trần Tuấn Tú (HAAC)

Tài liệu tham khảo:
[1]IAU - INTERNATIONAL ASTRONOMICAL UNION. IAU 2006 General Assembly: Result of the IAU Resolution votes, http://www.iau.org/iau0603.414.0.html

Frederick William Herschel sinh ra ở Hanover, Đức với tên khai sinh là Friedrich Wilhelm. Cha ông (Issac Herschel) là một thành viên của đội quân nhạc thành phố. Năm 1755, đội quân nhạc Hanover được điều đến Anh (hồi đó cả Hanover và Anh đều đặt dưới quyền cai trị của vua George II).


Ảnh: Frederick William Herschel (15/11/1738 – 25/08/1822)

Năm 19 tuổi, W.Herschel đến Anh và đổi tên thành Frederick William. Ban đầu, ông nối nghiệp cha trở thành giáo viên âm nhạc và chỉ huy ban nhạc. W.Herschel có thể chơi tốt nhiều loại nhạc cụ và đã biên soạn nhiều bản giao hưởng (tuy nhiên, đa số các sáng tác của ông đã bị thất lạc). Trong thời gian này, một số anh chị em của ông cũng di cư đến Anh, trong số đó có Caroline Lucretia Herschel, nhà nữ thiên văn đầu tiên.

Ngoài công việc chính trong lĩnh vực âm nhạc, W.Herschel còn rất đam mê nghiên cứu Thiên văn học. Ông đã tự chế tạo ra nhiều kính thiên văn và trao đổi với nhà thiên văn hoàng gia Nevil Maskelyne. Ông đã tiến hành quan sát và đo chiều cao của các dãy núi trên Mặt Trăng, nghiên cứu các hệ sao đôi.

Ngày 13/03/1781, W.Herschel đã phát hiện hành tinh thứ 7 của Hệ Mặt Trời. Ban đầu, ông đặt tên cho thiên thể đó là “Georgium Sidus” (ngôi sao của vua George) nhằm vinh danh người bảo trợ của ông là vua George III. Tuy nhiên, hành tinh này đã được nhà thiên văn Đức Johann Elert Bode đề nghị đặt tên là Uranus – Sao Thiên Vương (theo tên Latin của thần Bầu trời Ouranos trong thần thoại Hy Lạp). Khám phá ra Sao Thiên Vương đã đem lại nhiều vinh quang cho Herschel, ông được trao tặng huân chương Copley, được bầu làm thành viên hội Hoàng gia và năm sau, ông được đảm nhận nhiệm vụ “nhà thiên văn của vua” ("The King’s Astronomer).
Cùng với em gái là Caroline, W.Herschel đã tiếp tục các quan sát, nghiên cứu cũng như công việc chế tạo kính thiên văn. Ngày 11/01/1787, W.Herschel khám phá hai vệ tinh đầu tiên của Sao Thiên Vương: Oberon và Titania. Năm 1789, ông hoàn thành chiếc kính phản xạ đường kính 126 cm, chiều dài quang học 12m. Ngày 28/08/1789, trong lần quan sát đầu tiên với chiếc kính khổng lồ, ông đã phát hiện ra vệ tinh Enceladus của Sao Thổ, gần 1 tháng sau (ngày 17/09), ông tiếp tục phát hiện thêm 1 vệ tinh nữa: Mimas.


Ảnh: Kính thiên văn dài 12 m của W.Herschel

W.Herschel tiếp tục có thêm nhiều thành công trong các lĩnh vực khác nhau của thiên văn học. Ông đã lập ra một danh mục rất chi tiết các “tinh vân” (khái niệm tinh vân thời đó bao gồm cả những thiên hà, đám sao và tinh vân ngày nay). Ông đã phát hiện ra trường hợp “sao đôi vật lý” đầu tiên. Đó cũng là những bằng chứng đầu tiên về sự đúng đắn của định luật Vạn vật hấp dẫn đối với chuyển động của các thiên thể bên ngoài Hệ Mặt Trời.

Bằng cách nghiên cứu chuyển động riêng của các ngôi sao, W.Herschel đã chứng minh rằng toàn bộ Hệ Mặt Trời chuyển động trong không gian. Ông đã tìm ra hướng của chuyển động đó. W.Herschel cũng nghiên cứu về cấu trúc của Ngân Hà và kết luận rằng nó có dạng “đĩa”.

Đầu thế kỷ 19, khi Piazzi, Olbers, ... liên tiếp tìm ra những thiên thể mới chuyển động trong vùng không gian giữa Sao Hỏa và Sao Mộc, W.Herschel đã đề nghị gọi chúng là asteroid (có nghĩa là “giống như các ngôi sao”), Ông chỉ ra rằng xét đến cùng ngay cả trong kính viễn vọng, chúng cũng xuất hiện giống như ngôi sao và chỉ là các điểm sáng, do kích thước nhỏ bé của chúng. Piazzi đã phản đối ý kiến trên, đề nghị gọi là các "planetoid" (có nghĩa là "giống hành tinh"). Cả hai tên đó đều được sử dụng. Ngày nay, các tài liệu tiếng Anh hay gọi chúng là các "minor planet". Còn trong các tài liệu tiếng Việt, các thiên thể kiểu này được gọi là các "tiểu hành tinh".

W. Herschel là người đầu tiên khám phá ra sự tồn tại của tia hồng ngoại khi ông cho ánh sáng đi qua 1 lăng kính và đặt nhiệt kế vào sát ngay bên ngoài vạch đỏ. Ông tiếp tục tiến hành các nghiên cứu và đi đến kết luận rằng còn nhiều dạng sóng không nhìn thấy được tồn tại bên ngoài dải sóng khả kiến.
Con trai ông: John Herschel (07/03/1792 – 11/05/1871) cũng là một nhà thiên văn rất nổi tiếng trong thế kỷ XIX. Một số người cháu của ông (con trai của John Herschel) cũng tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thiên văn.


Ảnh: Bức ảnh tổng hợp chuyển động của bầu trời sao và tòa nhà chứa kính thiên văn William Herschel tại La Palma.

W. Herschel được đánh giá là một trong những nhà thiên văn lỗi lạc nhất của nhân loại. Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hỏa, một crater trên vệ tinh Mimas của Sao Thổ, một tiểu hành tinh (Asteroid 2000 Herschel), một ngôi sao khổng lồ trong chòm Cepheus, một kính thiên văn đường kính 4.2 mét đặt tại La Palma, và rất nhiều trường học, học viện, địa danh trên Thế giới. Ngày 14/05/2009, đài thiên văn Herschel (vinh danh William Herschel và Caroline Herschel) của ESA và NASA đã được phóng thành công lên không gian.


Ảnh: Mô hình đài thiên văn không gian Herschel


Trần Tuấn Tú (HAAC)
Tổng hợp từ Wikipedia và 1 số tài liệu khác

Được phóng đi từ ngày 09/09/1975, tàu Viking-2 đã mất tổng cộng 333 ngày để bay đến Sao Hỏa. Đây là 1 trong hai tàu vũ trụ thuộc chương trình Viking thăm dò Sao Hỏa của NASA. Mỗi tàu Viking bao gồm 2 thành phần chính:

- Module Lander (đổ bộ): hạ cánh xuống Sao Hỏa, tiến hành các thí nghiệm sinh, hóa, ... chụp ảnh và nghiên cứu các đặc điểm về bề mặt, khí hậu, địa chấn, từ trường, ...
- Module Orbiter : có nhiệm vụ chở module Lander đến Sao Hỏa, tiếp tục chuyển động và tiến hành các khảo sát trên quỹ đạo xung quanh hành tinh, đóng vai trò trạm trung chuyển tín hiệu từ module Lander về Trái Đất.


Module Lander của Viking-2 [1]

Sau khi rời khỏi Orbiter, Lander sử dụng dù và tên lửa hãm để đổ bộ xuống bề mặt Sao Hỏa. Tổng cộng Lander của Viking-2 đã hoạt động được 1281 ngày Sao Hỏa. Ngày 11/04/1980, Lander đã chấm dứt hoạt động do hệ thống pin bị hỏng. Trước đó, Orbiter cũng đã chấm dứt hoạt động vào ngày 25/07/1978 do hệ thống tên lửa đẩy hết nhiên liệu.[2]


Tàu vũ trụ Viking-2 (bao gồm module Lander gắn vào phía dưới của module Orbiter)

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 3 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_03.htm
[2]Wikipedia, 08/2007. Viking 2, http://en.wikipedia.org/wiki/Viking_2

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

César-François, con trai của Jacques Cassini, cháu nội của Giovanni Domenico Cassini, là đại diện cho thế hệ thứ 3 của dòng họ Cassini nhiều đời nghiên cứu về thiên văn học và xây dựng bản đồ nước Pháp. Mặc dù đảm nhiệm chức vụ giám đốc đài thiên văn Paris trong từ năm 1756 cho đến khi qua đời nhưng các công trình về thiên văn học của César-François Cassini không nổi bật bằng những thành quả đạt được trong lĩnh vực địa lý. Ông đã tham gia vào dự án vẽ bản đồ nước Pháp do cha ông chỉ đạo từ khi còn rất trẻ và thu được các kết quả rất xuất sắc. Năm 19 tuổi, César-François Cassini đã là thành viên của viện Hàn lâm Khoa học [2]


César-François Cassini de Thury (17/06/1714 – 04/09/1784) [1]

Những công trình về địa lý của César-François góp phần khẳng định những tiên đoán của Newton về hình dạng bẹt của Trái Đất tại hai cực. Ông được coi là người đã hoàn thành cơ bản dự án lập bản đồ lãnh thổ nước Pháp đã được bắt đầu từ những năm 1670 bởi Giovanni Domenico Cassini. César-François đã kế tục và hoàn thành 180 trang bản đồ với tỷ lệ 1:86400. Sau này, con ông là Dominique Cassini đã hoàn thành nốt 2 trang còn lại, kết thúc dự án kéo dài hơn 100 năm, thực hiện bởi 4 thế hệ trong gia tộc [2]

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 4 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_04.htm
[2]JOC/EFR, 04/2003. César-François Cassini de Thury, http://www-history.mcs.st-andrews.ac.uk/Biographies/Cassini_de_Thury.html

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Andrian Nikolayev sinh ra ở Shorshely, Chuvashia, liên bang Nga. Ban đầu, Nikolayev làm kiểm lâm tại Karelia cho đến năm 1950 thì gia nhập Hồng quân. Năm 1954, ông hoàn thành khóa huấn luyện phi công và biên chế vào lực lượng không quân đóng ở Moscow. Năm 1960, ông được lựa chọn và trở thành một trong 20 phi công vũ trụ đầu tiên của Liên Xô.


Ảnh: Andrian Grigoryevich Nikolayev (05/09/1929 – 03/07/2004) [1]

Ngày 11/08/1962, Nikolayev đã bay lên không gian trên tàu Vostok-3. Ông đã lập kỷ lục mới về thời gian làm việc của con người trong không gian với 3 ngày 22 giờ 22 phút. Ngày 03/11/1963, ông đã kết hôn với Valentina Tereshkova, người phụ nữ đầu tiên bay lên vũ trụ. Tuy nhiên, họ đã ly dị vào năm 1982. Năm 1970, cùng với Vitali Sevastyanov, Nikolayev đã bay lên không gian lần thứ 2 trên tàu Soyuz-9. Nhiệm vụ chính của chuyến bay này là kiểm tra khả năng làm việc dài hạn của các nhà du hành vũ trụ, chuẩn bị cho việc đưa vào vận hành các trạm không gian. Chuyến bay kéo dài 17 ngày 15 giờ 58 phút và 1 kỷ lục mới về thời gian làm việc ngoài không gian của con người đã lại được thiết lập bởi Nikolayev.


Ảnh: Nikolayev, Tereshkova và con gái

Từ năm 1968 đến năm 1974, Nikolayev là quyền giám đốc đào tạo của trung tâm Phi công Vũ trụ Yuri Gagarin. Sau đó ông được bổ nhiệm làm giám đốc đào tạo và đảm nhiệm chức vụ này cho đến năm 1982. Quân hàm cao nhất của ông trong quân đội Xô Viết là thiếu tướng không quân.

Nikolayev 2 lần được phong tặng danh hiệu «Anh hùng Liên Xô», được trao tặng rất nhiều huân, huy chương, trong đó có huân chương Lenin, huân chương Sao Đỏ. Ông cũng đã được 1 số nước khác như: Việt Nam, Bulgari, Mông Cổ phong danh hiệu «anh hùng». Ông là tác giả của 2 tác phẩm: Vstretimsya na orbite (Gặp nhau trên quỹ đạo) và Kosmos - doroga byez kontsa (Không gian – Con đường bất tận). Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]Mark Wade , 1997 - 2007 . Encyclopedia Astronautica, Nikolayev, http://www.astronautix.com/astros/niklayev.htm

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Horace Welcome Babcock sinh ra ở Pasadena, California, Hoa Kỳ. Năm 1934, H.Babcock tốt nghiệp học viện Kỹ thuật California. Năm 1939, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại đại học California, Berkeley.

Từ năm 1939 đến năm 1941, H.Babcock tham gia nghiên cứu tại đài thiên văn Yerkes và đài thiên văn McDonald. Tháng 9/1941, ông gia nhập nhóm nghiên cứu phát triển radar tại học viện MIT. Năm 1944, ông tham gia dự án phát triển tên lửa học viện Kỹ thuật California. Thế chiến thứ 2 kết thúc, năm 1946, H.Babcock chuyển đến đài thiên văn Mt. Wilson (sau này đổi tên thành đài thiên văn Mt. Wilson và Palomar). Tại đây, ông đã tiến hành nhiều nghiên cứu cùng với cha mình (nhà thiên văn Harold Delos Babcock). Năm 1951, hai cha con ông đã phát minh ra từ ký Mặt Trời (solar magnetograph). Thiết bị đo này không chỉ cho phép ông thu được những kết quả rất chính xác về sự phân bố của từ trường trên Mặt Trời mà còn giúp phát hiện ra sự biến đổi từ trường của những ngôi sao khác trong vũ trụ. H.Babcock còn phát minh ra nhiều thiết bị, dụng cụ sử dụng trong thiên văn học hiện đại. Năm 1961, ông đã xây dựng lên mô hình giải thích sự xuất hiện các vết đen trên bề mặt Mặt Trời: Babcock model (*)


Ảnh: Horace Welcome Babcock (13/09/1912 – 19/08/2003)

Từ năm 1964 đến năm 1978, ông đảm nhiệm chức vụ giám đốc đài thien văn Mt.Wilson và Palomar. Trong thời gian này, ông đã tham gia việc xây dựng đài thiên văn Las Campanas tại Chile.

Tiểu hành tinh thứ 3167 (asteroid 3167) đã được đặt tên là Babcock để vinh danh cha con ông.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 13 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_13.htm
[2]JST, 2006-02-25. The Bruce Medalists, Horace Welcome Babcock, http://www.phys-astro.sonoma.edu/BruceMedalists/BabcockHW/index.html

(*): Trong bài viết tương ứng với ngày 24/01 về tiểu sử nhà thiên văn Harold D. Babcock, dựa trên thông tin trong tài liệu «What is up 2007, 365 days of skywatching” của Tammy Plotner, tôi đã viết “Năm 1961, ông (tức Harold. D. Babcock) đã giải thích sự xuất hiện của các vết đen là bắt nguồn từ chuyển động vi sai và sự biến thiên từ trường của Mặt Trời” .

Tuy nhiên, dựa trên những tài liệu viết về Horace W. Babcock, đặc biệt là so sánh tiểu sử tóm tắt của hai cha con ông trên website của Khoa Vật lý và Thiên văn, đại học Somona (giới thiệu những nhà thiên văn được trao tặng huy chương Bruce), có thể khẳng định rằng tác giả Tammy Plotner đã có nhầm lẫn. Người đưa mô hình giải thích sự xuất hiện các vết đen Mặt Trời năm 1961 là Horace W. Babcock

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ngày 14/09/1959, tàu vũ trụ Luna-2 của Liên Xô đã đâm xuống bề mặt Mặt Trăng. Đây là tàu vũ trụ đầu tiên đến được Mặt Trăng.


Ảnh: Luna-2

Luna-2 được phóng đi từ ngày 12/09/1959 (theo giờ Mat-xcơ-va thì là ngày 13/09). Trong hành trình bay đến Mặt Trăng, Luna-2 đã phát hiện ra những bằng chứng đầu tiên về gió Mặt Trời. Tàu thăm dò cũng đã phát hiện sự biến thiên của các luồng electron, góp phần khẳng định sự tồn tại của vành đai Van Allen bao quanh Trái Đất.

Sau 33.5 tiếng hành trình, Luna-2 đã đâm xuống Mặt Trăng, kết thúc thành công nhiệm vụ theo kế hoạch đặt ra. Các kết quả đo đạc của Luna-2 cho thấy từ trường của Mặt Trăng rất yếu và không có vành đai các hạt mang điện bao quanh vệ tinh này.

Tài liệu tham khảo:

[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 14 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_14.htm
[2]Wikipedia, 09/2007. Luna 2, http://en.wikipedia.org/wiki/Luna_2

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Jean Syslvain Bailly sinh ra ở Paris, con trai của một họa sĩ hoàng gia. Ban đầu, ông cũng nối nghiệp cha trở thành một họa sĩ, đồng thời là một nhà viết kịch. Niềm đam mê khoa học của ông đã được khơi dậy bởi Nicolas de Lacaille. Bailly đã tiến hành tính toán lại qũy đạo của sao chổi Halley trong lần xuất hiện vào năm 1759. Ông tinh chỉnh và rút gọn danh mục bao gồm 515 ngôi sao hoàng đạo của de Lacaille. Bailly đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vệ tinh Sao Mộc. Ông cũng là tác giả của rất nhiều tác phẩm nổi tiếng thuộc lĩnh vực lịch sử khoa học như: Histoire de l''astronomie ancienne (Lịch sử Thiên văn học cổ, xuất bản năm 1775); Histoire de l''astronomie moderne (Lịch sử Thiên văn học hiện đại, 3 tập, xuất bản trong giai đoạn 1779 - 1782); Traite de l''astronomie indienne et orientale (Chuyên luận về thiên văn học Ấn Độ và Phương Đông, xuất bản năm 1787), ....

Ảnh: Jean Sylvain Bailly (15/09/1736 – 12/11/1793)

Cách mạng Pháp nổ ra, Bailly được bầu làm chủ tịch của Đảng phái thứ 3 (đảng của những người không thuộc tầng lớp quý tộc hay tăng lữ, đại diện cho giai cấp tư sản, nông dân và công nhân). Sau sự kiện phá ngục Bastille ngày 14/07/1789, Bailly được bầu làm thị trưởng đầu tiên của Paris. Ngày 17/07/1791, đám đông tập trung ở quảng trường Champ de Mars để tiến hành lấy chữ ký cho bản kiến nghị đòi phế truất vua Louis XVI. Xung đột đã nổ ra dẫn tới việc vệ binh quốc gia bắn thẳng vào đám đông. Sau sự kiện này, Bailly đã không còn được ủng hộ như trước. Ông đã từ chức thị trưởng vào ngày 18/11/1791, lui về sống ở Nantes. Tuy nhiên, đến tháng 10/1793, trong 1 giai đoạn mà sau này lịch sử ghi lại là “Reign of Terror” (giai đoạn thống trị kinh hoàng) ông bị bắt và bị đưa về Paris xét xử. Ngày 12/11/1793, Bailly đã bị đưa lên máy chém.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 15 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_15.htm
[2]Wikipedia, 09/2007. Jeans Sylvain Bailly, http://en.wikipedia.org/wiki/Jean-Sylvain_Bailly

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ngày này năm xưa