James Jeans sinh ra ở Lancashire, tây bắc nước Anh. Năm 1898, ông tốt nghiệp đại học Cambridge và ở lại trường tham gia công tác giảng dạy. Năm 1904, ông chuyển đến đại học Princeton, Hoa Kỳ giảng dạy môn toán ứng dụng. Năm 1910, ông quay trở lại trường Cambridge.

Dựa trên những nghiên cứu về vật thể quay, James Jeans đã phủ nhận học thuyết của Laplace về sự hình thành của hệ Mặt Trời từ đám mây khí và bụi. Ông cho rằng, các hành tinh đã được hình thành từ sự cô đọng các vật chất bắn ra từ Mặt Trời do ảnh hưởng của một ngôi sao chuyển động ngang qua. Hiện nay, lý thuyết này của James Jeans đã không còn được chấp nhận. Ông cũng là người đầu tiên đưa ra giả thiết về một vũ trụ ổn định, dựa trên giả thuyết về sự sinh ra liên tục của vật chất. Tuy nhiên, giả thiết này đã bị bác bỏ bởi sự khám phá ra bức xạ phông vũ trụ (cosmic microwave background) năm 1965.


Ảnh: Sir James Hopwood Jeans (11/09/1877 - 16/09/1946)

James Jeans đã tìm ra công thức tính bán kính tới hạn của các đám mây khí và bụi trong vũ trụ dựa trên nhiệt độ, mật độ và khối lượng của các hạt vật chất. Bán kính này được gọi là “Jeans length” (độ dài Jeans). Nếu một đám mây khí và bụi có bán kính nhỏ hơn “Jeans length”, quá trình hình thành sao sẽ không thể xảy ra (và ngược lại)

James Jeans là tác giả của rất nhiều tác phẩm chuyên khảo hoặc phổ biến kiến thức như: The Stars in Their Courses (Những ngôi sao trong quá trình phát triển, xuất bản năm 1931), The New Background of Science (Những nền tảng của khoa học hiện đại, xuất bản năm 1933); The Universe Around Us (Vũ trụ quanh ta, xuất bản năm 1934), Through Space and Time (Xuyên qua không gian và thời gian, xuất bản năm 1934), The Mysterious Universe (Vũ trụ bí ẩn), Physic and Philosophy (Vật lý và Triết học), ...

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hỏa.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 16 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_16.htm
[2]Wikipedia, 08/2007. James Hopwood Jeans, http://en.wikipedia.org/wiki/Sir_James_Jeans

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ngày sinh nhà khoa học không gian Liên Xô Konstantin Eduardovich Tsiolkovsky (17/09/1857 – 19/09/1935). Tsiolkovsky cùng với Hermann Julius Oberth và Robert Hutchings Goddard được thế giới vinh danh là "cha đẻ của ngành hàng không vũ trụ".

Tsiolkovsky sinh ra ở làng Ijevskoe, tỉnh Ryasan, thuộc phía tây liên bang Nga. Cha ông, Edward Ciolkowski, là một người Ba Lan nhập cư; mẹ ông, Maria Yumasheva, là một người Nga. Năm 10 tuổi, Tsiolkovsky bị sốt phát ban và suy giảm nghiêm trọng thính lực. Vì lý do đó, ông đã không được chấp nhận đến trường phổ thông và phải tự học ở nhà. Ông đã đọc mọi cuốn sách trong thư viện gia đình và luôn nỗ lực vươn lên tự khẳng định mình, vượt qua sự thiệt thòi mà bản thân phải chịu đựng.


Ảnh: Konstantin Eduardovich Tsiolkovsky (17/09/1857 – 19/09/1935)

Trong thời gian từ năm 1873 đến 1876, Tsiolkovsky sống ở Mat-xcơ-va. Ông thường xuyên đến đọc sách tại thư viện chính của thành phố. Tại đây, ông đã được triết gia nổi tiếng Nikolai Fedorovitch Fedorov hướng dẫn và chỉ dạy. Fedorov cũng đã tìm cho Tsiolkovsky một việc làm ở thư viện, tạo điều kiện cho ông được nghiên cứu, tự học những bài giảng của trường đại học. Ở vào tuổi 17, trong tâm trí Tsiolkovsky đã bắt đầu nảy sinh những ý tưởng đầu tiên về các chuyến bay chinh phục không gian, về việc đưa con người ra sống và làm việc ngoài vũ trụ. Năm 1876, Tsiolkovsky trở về quê nhà và thi lấy chứng chỉ giáo viên. Ông dạy toán tại một trường trung học ở Borovsk, tỉnh Kaluga. Tại đây, ông đã bắt đầu những nghiên cứu khoa học đầu tiên thuộc về nhiều lĩnh vực như: chế tạo khinh khí cầu, sống và làm việc ngoài không gian, hàng không vũ trụ và triết học. Năm 1892, ông chuyển đến làm việc tại thành phố Kaluga. Tại đây, ông đã viết và xuất bản các học thuyết về hàng không vũ trụ. Năm 1919, ông được bầu làm thành viên viện Hàn lâm Khoa học Xô Viết. Từ năm 1920, chính phủ Xô Viết đã trợ cấp cho các hoạt động khoa học của Tsiolkovsky.

Tsiolkovsky đã có những ý tưởng vượt tầm thời đại. Trong tác phẩm “The Cosmic Philosoply” (“Triết học Vũ trụ”, xuất bản năm 1932) ông đã trình bày về một “niềm hạnh phúc toàn vũ trụ” (universal happiness). Niềm hạnh phúc đó không chỉ của riêng con người trên Trái Đất mà của toàn thể cư dân vũ trụ. Để đạt được “niềm hạnh phúc” đó, một trong những việc chính con người cần thực hiện là “tìm ra các quy luật chi phối vận động của vũ trụ”. Do đó, cần phải bay ra ngoài không gian, học tập và rèn luyện cách sống ngoài không gian để có thể nghiên cứu sâu hơn về vũ trụ. Để làm được điều này, chúng ta cần phải thiết kế những tàu vũ trụ có người điều khiển. Những chuyến bay đưa người lên không gian chính là bước đi đầu tiên của nhân loại trong một thời kỳ dài lâu, góp phần xây dựng lên một “nền văn minh vũ trụ” (cosmic civilization). Năm 1926, ông đã đề xuất “Kế hoạch chinh phục không gian” bao gồm 16 bước, từ việc chế tạo các máy bay phản lực đến quá trình di dân đến những hệ mặt trời khác khi mà Mặt Trời lụi tàn.

Tsiolkovsky đã dùng toán học để chứng minh sự khả thi của các chuyến bay vào không gian. Ông đã thiết kế mô hình của các tên lửa, động cơ tên lửa, tên lửa nhiều tầng, trạm không gian, ... Ông đã tính toán được những ảnh hưởng đối với con người trong quá trình làm việc ngoài không gian, đồng thời đề ra những giải pháp và đưa ra quy trình làm việc của những nhà du hành.

Với hơn 500 công trình và một số tác phẩm kinh điển, Tsiolkovsky đã được cả thế giới biết đến và được công nhận là một trong những người khai sinh ra ngành hàng không vũ trụ. Mặc dù ông không tự chế tạo ra các tên lửa, nhưng các công trình của ông đã là nền tảng, là động lực rất lớn thúc đẩy sự nghiên cứu, sáng tạo của một thế hệ các nhà khoa học không gian Xô Viết kế cận mà tiêu biểu là tổng công trình sư Sergey Korolev.

Tên ông được đặt cho phương trình cơ bản nhất sử dụng để tính toán sự tăng vận tốc của tên lửa, một crater trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh (asteroid 1590 Tsiolkovskaja). Phòng trưng bày của bảo tàng Không gian NASA được bắt đầu bằng chân dung của Tsiolkovsky.


Ảnh: Minh họa các nhà du hành làm việc trong trạng thái không trọng lực (vẽ năm 1932)


Ảnh: Quy trình rời tàu vũ trụ làm việc ngoài không gian (vẽ năm 1932)

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 17 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_17.htm
[2]Konstantin E. Tsiolkovsky State Museum of the History of Cosmonautics, The life of Konstantin Eduardovitch Tsiolkovsky, http://www.informatics.org/museum/tsiol.html

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ngày 18/09/2006, Nga phóng thành công tàu Soyuz TMA-9. Anousheh Ansari đã trở thành nữ du khách vũ trụ đầu tiên.

Anousheh Ansari sinh ngày 12/09/1966 tại thành phố Mashhad, đông bắc Iran. Năm 1984, gia đình bà di cư sang Hoa Kỳ. Bà theo học chuyên ngành điện tử và khoa học máy tính tại đại học George Manson, sau đó tiếp tục lấy bằng thạc sĩ tại đại học George Washington. Hiện nay, bà đang là chủ tịch tập đoàn công nghệ Proda.


Ảnh: Anousheh Ansari

Ngày 18/09/2006, Ansari đã bay lên trạm ISS trên cùng với Mikhail Tyurin và Michael Lopez-Alegria. Trên trạm ISS, Ansari đã tiến hành 4 thí nghiệm thuộc lĩnh vực sinh học với tư cách là cộng tác viên của cơ quan Không gian Châu Âu (ESA). Bà cũng là người đầu tiên viết blog từ trạm ISS. Tổng cộng, Ansari đã ở ngoài không gian trong 10 ngày 21 giờ 4 phút, trong đó có gần 8 ngày trên trạm ISS.

Trả lời phỏng vấn của phóng viên space.com trước chuyến bay vào không gian, Ansari đã nói:

"I hope to inspire everyone—especially young people, women, and young girls all over the world, and in Middle Eastern countries that do not provide women with the same opportunities as men—to not give up their dreams and to pursue them.

It may seem impossible to them at times. But I believe they can realize their dreams if they keep it in their hearts, nurture it, and look for opportunities and make those opportunities happen. ...”

(Tạm dịch: "Tôi mong rằng chuyến bay của mình sẽ truyền cảm hứng cho tất cả mọi người, đặc biệt là những bạn trẻ, phụ nữ và những em gái trên khắp thế giới, nhất là ở các nước Trung đông, nơi mà phụ nữ chưa được bình đẳng với nam giới.

Có lẽ rằng, tại thời điểm này, những dự định to lớn đó là bất khả thi. Nhưng tôi tin rằng ước mơ sẽ được biến thành hiện thực nếu như ước mơ đó luôn được họ ấp ủ trong tim, luôn được họ nuôi dưỡng, sẵn sàng cho mọi cơ hội, và thậm chí là chính họ có thể tự tạo ra cho mình những cơ hội ...")

Tài liệu tham khảo:
[1]Wikipedia, 09/2007. Anousheh Ansari, http://en.wikipedia.org/wiki/Anousheh_Ansari
[2]Sara Goudarzi, Space.com, 15/09/2006. Interview with Anousheh Ansari, the First Female Space Tourist , http://www.space.com/missionlaunches/060915_ansari_qna.html

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Delambre sinh ra ở thành phố Amiens, bắc nước Pháp. Sau 1 trận ốm từ ngày còn nhỏ, ông đã bị suy giảm thị giác. Do nghĩ rằng mình sẽ bị mù và sẽ không còn đọc được nữa, ông đã “đọc ngốn ngấu” rất nhiều sách và tự rèn luyện để có thể nhớ lâu. Delambre có khả năng nhớ lại chính xác nguyên văn nội dung của các cuốn sách mà ông đã đọc trước đó nhiều tuần lễ. Ông sử dụng rất tốt 3 ngoại ngữ là tiếng Italy, tiếng Anh và tiếng Đức. Ông là tác giả của cuốn sách Règles et méthodes faciles pour apprendre la langue anglaise (Những quy tắc và phương pháp đơn giản học tiếng Anh).


Ảnh: Jean Baptiste Joseph Delambre (19/09/1749 – 19/08/1822)

Niềm đam mê thiên văn của Delambre đã được nhà thiên văn nổi tiếng đương thời là Joseph-Jérôme Lefrançais de Lalande phát hiện và bồi dưỡng. Năm 1789, ông được viện Hàn lâm Khoa học trao giải thưởng “Grand Prix” vì những tính toán chính xác quỹ đạo của Sao Thiên Vương. Năm 1792, ông xuất bản tác phẩm “Tables du Soleil, de Jupiter, de Saturne, d''Uranus et des satellites de Jupiter” (Bảng danh mục vị trí Mặt Trời, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương và các vệ tinh của Sao Mộc). Cũng trong năm này, ông được viện Hàn lâm Khoa học trao giải thưởng “Grand Prix” lần thứ 2 và được bầu làm thành viên của viện.

Trong những năm 1790, viện Hàn lâm Khoa học Pháp đã đảm nhận nhiệm vụ định nghĩa ra các đơn vị đo mới, có thể được chấp nhận trên toàn thế giới. Viện Hàn lâm đã quyết định chọn đơn vị đo độ dài mới là “mét”, bằng 1 phần 10 triệu độ dài đường kinh tuyến từ Bắc cực xuống Xích đạo. Delambre đã dẫn đầu đoàn khoa học làm nhiệm vụ đo độ dài đoạn kinh tuyến từ Dunkirk đến Rodez (hai địa danh thuộc Pháp). Pierre Méchain dẫn đầu 1 đoàn khác làm nhiệm vụ đo độ dài đoạn kinh tuyến từ Barcelona (Tây Ban Nha) đến Rodez. Delambre đã hoàn thành nhiệm vụ đo đạc của đoàn mình vào năm 1798. Tháng 2 năm 1799, các kết quả này đã được công bố. Méchain cũng đã công bố những kết quả của đoàn mình vào tháng 6 cùng năm. Những kết quả của 2 đoàn khoa học đã cho phép chế tạo thước mét chuẩn đầu tiên (bằng platin).

Năm 1801, Dalambre được Napoléon bổ nhiệm là thư ký thường trực tại viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Năm 1804, Delambre đảm nhiệm chức vụ giám đốc đài thiên văn Paris. Năm 1807, Lalande qua đời, Delambre kế thừa chức vụ giáo sư thiên văn của thầy tại trường cao đẳng Paris.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 19 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_19.htm
[2]MacTutor History of Mathematics archive, JOC/EFR © April 2003 Jean Baptiste Joseph Delambre, http://www-history.mcs.st-andrews.ac.uk/Biographies/Delambre.html

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Gherman Titov sinh ra ở Verhnee Zhilino, phía nam liên bang Nga. Sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo phi công năm 1957, Titov biên chế trong một đơn vị không quân đóng ở Leningrad. Năm 1960, ông là một trong 20 người Liên Xô đầu tiên được chọn để huấn luyện trở thành phi công vũ trụ. Ngày 06/08/1961, Titov đã bay lên không gian trên tàu vũ trụ Vostok-2. Chuyến bay kéo dài 1 ngày 1 giờ 18 phút, bay quanh Trái Đất hơn 17 vòng. Titov là người thứ 4 bay lên vũ trụ (sau Gagarin, Shepard và Grissom).


Ảnh: Gherman Stepanovich Titov (11/09/1935 – 20/09/2000)

Titov chỉ bay lên vũ trụ 1 lần duy nhất vào năm 1961. Sau đó, ông đảm nhiệm các chức vụ quản lý, điều hành. Ông nghỉ hưu vào năm 1992 với quân hàm đại tướng. Năm 1995, ông được bầu làm thành viên của Duma quốc gia Nga, đại diện cho đảng Cộng Sản.

Gherman Titov được phong tặng danh hiệu "Anh hùng Liên Xô", được trao nhiều phần thưởng và huân chương cao quý, trong đó có huân chương Lenin. Ông cũng được một số nước khác như: Việt Nam, Bulgari, Mông Cổ phong tặng danh hiệu "anh hùng". Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một hòn đảo tại vịnh Hạ Long, Việt Nam.

Titov là tác giả của một số cuốn sách như: "Một triệu dặm trên quỹ đạo" (xuất bản năm 1961), "Hành tinh xanh của tôi" (xuất bản năm 1977), "Đối thoại với các phi hành gia liên bang Xô Viết" (xuất bản năm 1983), ...

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 20 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_20.htm
[2]Wikipedia, 00/2007. Gherman Titov, http://en.wikipedia.org/wiki/Gherman_Titov

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Arthur Milne sinh ra ở thành phố Hull, Yorkshire, thuộc phía đông nước Anh. Năm 1914, ông theo học chuyên ngành toán và khoa học tự nhiên tại trường Cambridge. Chiến tranh thứ nhất xảy ra, ông gác lại việc học tập của mình, tham gia nhóm nghiên cứu về đạn đạo trong lĩnh vực phòng không. Năm 1919, Milne quay trở lại Cambridge. Mặc dù chưa hoàn thành khóa học nhưng với những thành tích đã đạt được, ông được bầu trực tiếp vào ban giám đốc của trường cao đẳng Trinity, đại học Cambridge. Năm 1920, ông đảm nhiệm chức vụ phó giám đốc đài quan sát Vật lý Mặt Trời của trường. Trong thời gian này, ông tập trung nghiên cứu các vấn đề về khí quyển sao. Các nghiên cứu của ông tập trung vào việc khảo sát một số đặc điểm của các ngôi sao dựa trên quang phổ của chúng.


Ảnh: Edward Arthur Milne (14/02/1896 – 21/09/1950)

Năm 1925, Milne được bầu làm giáo sư Beyer về toán ứng dụng của trường đại học Victoria, Manchester. Năm 1926, ông được bầu là thành viên hội Hoàng gia. Năm 1928, ông chuyển sang đảm nhiệm chức vụ giáo sư Rouse Ball tại đại học Oxford. Trong thời gian này, Milne tập trung vào việc tìm ra mô hình toán học mô tả cấu trúc các ngôi sao. Ông cũng đã đề ra một học thuyết có tên là "Động học tương đối", trái ngược với thuyết Tương đối của Albert Einstein. Tuy nhiên, học thuyết này của Milne đã không còn được chấp nhận. Trong thời gian từ năm 1943 đến 1945, ông đảm nhiệm vai trò chủ tịch hội Thiên văn Hoàng gia.

Milne là tác giả của một số tác phẩm như: "Nhiệt động lực học sao", "Tính tương tối, Sự hấp dẫn và Cấu trúc thế giới", "Động học tương đối", ... Đây là những cuốn sách mang tính hàn lâm rất cao.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 21 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_21.htm
[2]MacTutor History of Mathematics archive, JOC/EFR © April 2003 Edward Arthur Milne, http://www-history.mcs.st-andrews.ac.uk/Biographies/Milne.html
[3]JST, 2006-02-25. The Bruce Medalists, Edward Arthur Milne, http://www.phys-astro.sonoma.edu/BruceMedalists/Milne/index.html

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ngày 23/09/1846, dựa trên những tính toán của Le Verrier, Johann Galle đã xác định được vị trí của Sao Hải Vương (Neptune)

Năm 1821, nhà thiên văn học người Pháp Alexis Bouvard đã biên soạn bảng danh mục các vị trí của Sao Thiên Vương. Tuy nhiên, các quan sát sau này đã phát hiện ra những sai khác trong quỹ đạo biểu kiến của Sao Thiên Vương so với quỹ đạo theo tính toán. Bouvard đã đưa ra giả thiết là có một hành tinh nằm ngoài quỹ đạo của Sao Thiên Vương, lực hấp dẫn của hành tinh này gây lên những sai khác trên.


Ảnh: Sao Hải Vương

Độc lập với nhau, John Couch Adams và Le Verrier đã tính toán quỹ đạo của hành tinh thứ 8 này. Adams hoàn thành những tính toán của mình vào năm 1843 và gửi cho George Airy của đài thiên văn Hoàng gia, Airy yêu cầu Adams giải thích một số vấn đề, Adams đã viết nháp những câu trả lời, tuy nhiên lại không gửi đi. Hoàn thành công trình muộn hơn (năm 1846), nhưng Le Verrier đã rất chủ động thúc đẩy quá trình quan sát để tìm ra hành tinh thứ 8. Ngày 23/09/1846, nhà thiên văn người Đức Johann Gottfried Galle đã phát hiện ra Sao Hải Vương, cách 1 độ so với tính toán của Le Verrier, 10 độ so với tính toán của Adams. Hành tinh này được đặt tên là Neptune, dựa theo tên thần biển cả trong thần thoại La Mã (tương ứng với thần Poseidon trong thần thoại Hy Lạp).

Sao Hải Vương có khối lượng gấp 17.147 lần Trái Đất, có bán kính từ tâm ra xích đạo gấp 3.883 lần Trái Đất, bán kính từ tâm đến 2 cực gấp 3.829 lần Trái Đất. Sao Hải Vương chuyển động một vòng trên quỹ đạo hết 165 năm Trái Đất, điểm viễn nhật cách Mặt Trời 30.44 AU, điểm cận nhật cách Mặt Trời 29.76 AU. Một ngày trên Sao Hải Vương bằng 0.6713 ngày Trái Đất (16 giờ 6 phút)

“Hãy cứ hình dung đến việc đi tìm kiếm một hành tinh khổng lồ mới mà chỉ do quan sát những khác thường nhỏ bé ở chuyển động của một hành tinh khác, cả hai hành tinh đều ở cách xa chúng ta hơn hai tỷ kilômét. Một nhà toán học ngồi ở bàn viết của mình, tính toán, và bảo : “Hãy nhìn vào điểm như thế này, bạn sẽ tìm thấy một hành tinh đấy”. Một nhà thiên văn nhìn vào điểm đó, và tìm thấy thật.

Đây là một trong những chiến thắng có ấn tượng lớn lao nhất của trí tuệ con người”

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 23 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_23.htm
[2]Wikipedia, 09/2007. Neptune, http://en.wikipedia.org/wiki/Neptune
[3]Issac Asimov, Hệ Mặt Trời, Người dịch Đắc Lê. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1980

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

John Young sinh ra ở San Francisco, California, phía tây Hoa Kỳ. Năm 1952, ông tốt nghiệp học viện Công nghệ Georgia chuyên ngành kỹ sư hàng không. Sau 1 thời gian ngắn làm việc khu trục hạm USS Laws, Young chuyển sang làm phi công lái máy bay tiêm kích. Năm 1962, John Young gia nhập NASA.


Ảnh: John Watts Young

Sự nghiệp của John Young được đánh dấu bởi những sự kiện chính sau:

+ Tháng 3 năm 1965, ông có chuyến bay đầu tiên lên vũ trụ trên tàu Gemini-3. Đây cũng là phi thuyền có người lái đầu tiên thuộc dự án Gemini

+ Tháng 7 năm 1966, ông là chỉ huy phi thuyền Gemini-10

+ Tháng 5 năm 1969, ông là thành viên phi hành đoàn Apollo-10 với vai trò phi công điều khiển Command/Service Module (tàu mẹ bay trên quỹ đạo trong khi Lunar Module đổ bộ xuống Mặt Trăng). Apollo-10 là phi thuyền thực hiện những thử nghiệm cuối cùng trước khi người Mỹ tiến hành đổ bộ xuống Mặt Trăng.

+ Tháng 4 năm 1972, ông đã đổ bộ xuống Mặt Trăng trong nhiệm vụ thứ 16 của chương trình Apollo. Cùng với Charles Duke Jr, Young đã ở trên Mặt Trăng trong vòng 71 giờ, 2 phút.

+ Tháng 4 năm 1981, ông là chỉ huy tàu Columbia. Đây là chuyến bay vào không gian đầu tiên của các tàu con thoi.

+ Tháng 11 năm 1983, ông tiếp tục bay lên không gian với nhiệm vụ chỉ huy tàu con thoi Columbia. Đây cũng là lần đầu tiên người Mỹ vận hành phòng thí nghiệm không gian (space lab) trên các tàu con thoi.

Tổng cộng John Young đã ở ngoài không gian trong 34 ngày 19 giờ 39 phút. Ông là người đầu tiên có 6 chuyến bay vào không gian (trong đó có 2 chuyến bay đến Mặt Trăng) với 4 loại phi thuyền khác nhau: Gemini, Apollo Command/Service Module, Apollo Lunar Module và tàu con thoi. Có thể nói, John Young là một trong những phi hành gia lỗi lạc nhất trong lịch sử chinh phục không gian của loài người.

Ngày 31/12/2004, John Young đã chính thức nghỉ hưu sau 42 năm làm việc cho NASA. Ông đã được trao nhiều huy chương, giải thưởng cao quý. Tên ông đã được đặt cho một xa lộ ở bang Florida.


Ảnh: John Young chào cờ trên Mặt Trăng (bức ảnh chụp lúc ông đang nhảy lên)


Tài liệu tham khảo:

[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 24 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_24.htm
[2]Wikipedia, 09/2007. John Young (astronaut), http://en.wikipedia.org/wiki/John_Watts_Young

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ole Rømer sinh ra tại thành phố Aarhus trong một gia đình thương nhân. Năm 1662, ông ghi danh vào đại học Copenhagen. Rømer tập trung vào các môn toán và thiên văn , sử dụng các phương pháp quan sát của Tycho Brahe. Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc tại đài thiên văn Uraniborg. Cùng với Jean Picard, Rømer đã tiến hành quan sát khoảng 140 lần Sao Mộc che khuất vệ tinh Io. Tại Paris, Giovanni Domenico Cassini cũng tiến hành những công việc tương tự. Dựa trên các kết quả quan sát này, sự chênh lệch nhau về kinh độ giữa hai đài thiên văn đã được xác định.

Trong quá trình quan sát các vệ tinh Sao Mộc ở Paris từ năm 1666 đến năm 1668, Giovanni D. Cassini đã nhận ra các sai khác khi Sao Mộc và Trái Đất ở cùng phía hoặc khác phía so với Mặt Trời. Năm 1672, Rømer đến Paris làm phụ tá cho Cassini. Các kết quả quan sát tiếp theo của Rømer đã khẳng định những sai khác do Cassini phát hiện ra. Năm 1675, Cassini đã công bố nghi vấn về việc ánh sáng có vận tốc hữu hạn. Tuy nhiên, sau đó Cassini không còn quan tâm nhiều đến hiện tượng này nữa.


Ảnh: Ole Christensen Rømer (25/09/1644 – 19/09/1710)

Rømer đã tiếp tục nghiên cứu, giải thích hiện tượng trên. Ông được coi là người đầu tiên tính toán ra được vận tốc của ánh sáng:

“Rômơ thấy rằng khi Trái Đất ở cùng một phía Mặt Trời với Sao Mộc, mỗi vệ tinh đi qua phía sau Sao Mộc sớm một chút hơn người ta tưởng. Khi Trái Đất và Sao Mộc ở các phía đối diện với nhau qua Mặt Trời, những vệ tinh đi qua phía sau Sao Mộc chậm hơn một chút. Mỗi vệ tinh thể hiện cùng "lầm lẫn" như vậy trong cả hai trường hợp, và Rômơ không thể đưa toán học ra sửa chữa chúng được.

Năm 1675, Rômơ quả quyết những "lầm lẫn" đó hẳn phải có nguyên nhân là ánh sáng mất một số thời gian để truyền đi. Khi Trái Đất và Sao Mộc ở hai phía đối diện với nhau qua Mặt Trời, ánh sáng phải mất thêm một khoảng thời gian để vượt ngang qua quĩ đạo của Trái Đất (khoảng thời gian đó là 16 phút). Các vệ tinh không bị che khuất muộn hay sớm, mà chính là ánh sáng đã "đưa tin" tới con mắt của nhà thiên văn muộn hoặc sớm đấy.

Sử dụng khoảng cách cắt ngang quỹ đọa của Trái Đất và số thời gian chậm lại trong hiện tượng che khuất của các vệ tinh Sao Mộc, Rômơ có thể công bố được con số của ông về tốc độ ánh sáng. Ông tính được con số rất sát với con số ngày nay chúng ta thừa nhận. Vào khi đó, xác định con số này có thể không có vẻ quan trọng lắm, nhưng tốc độ của ánh sáng trở thành mấu chốt đối với vật lý học hiện đại. Bởi vậy Rômơ đạt được thành tựu hơn là ông tưởng».[3]

Năm 1681, Ole Rømer trở lại Đan Mạch, đảm nhiệm chức vụ giáo sư thiên văn tại đại học Copenhagen. Tháng 5 năm 1683, ông đã đề ra hệ thống đo lường quốc gia đầu tiên của Đan Mạch. Năm 1700, ông đã thuyết phục được nhà vua sử dụng lịch Gregorian tại Đan Mạch và Na Uy (điều mà cách đó khoảng 100 năm, Tycho Brahe đã không làm được). Rømer cũng đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phát triển hệ thống an ninh và dân sinh tại Copenhagen trong những năm đầu thế kỷ XVIII.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 25 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_25.htm
[2]Wikipedia, 09/2007. Ole Rømer, http://en.wikipedia.org/wiki/Ole_R%C3%B8mer
[3]Issac Asimov, Hệ Mặt Trời, Người dịch Đắc Lê. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1980

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Christopher Hansteen sinh ra ở Christinania, nay là Oslo, thủ đô Na Uy. Ông học luật và toán học tại trường đại học Copenhagen. Từ năm 1806, ông là giáo viên toán tại trường trung học Frederiksborg. Không chỉ giảng dạy, ông còn nghiên cứu, khảo sát từ trường Trái Đất. Năm 1810, ông được nhận giải thưởng của viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Đan Mạch vì những kết quả nghiên cứu đối với trục từ trường.


Ảnh: Christopher Hansteen (26/09/1784 – 11/04/1873)

Năm 1814, ông được bổ nhiệm làm giáo sư thiên văn và toán ứng dụng tại đại học Christiania. Ông tiếp tục tập trung vào nghiên cứu từ trường Trái Đất. Hansteen đã tiến hành khảo sát, đo đạc tại nhiều địa điểm khác nhau thuộc Na Uy, Phần Lan và vùng Siberi của Nga. Mặc dù không hoàn thành được mục tiêu lớn nhất là xác định số lượng cũng như vị trí các cực từ của Trái Đất, những kết quả của Hansteen đã góp phần thiết lập bản đồ phân bố từ trường, về độ lớn cũng như hướng của chúng.

Năm 1833, Hansteen được bổ nhiệm làm giám đốc đài thiên văn mới thành lập tại Christiania, tuy nhiên, công việc chủ yếu của ông vẫn là khảo sát từ trường Trái Đất. Từ năm 1837, ông tham gia điều hành các khảo sát về địa lý và địa hình của Na Uy.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 26 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_26.htm
[2]Wikipedia, 06/2007. Christopher Hansteen, http://en.wikipedia.org/wiki/Christopher_Hansteen

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Benjamin Gould sinh ra ở Boston, bang Massachusetts, đông bắc Hoa Kỳ, Năm 1844, sau khi tốt nghiệp trường đại học Harvard, ông theo học toán và thiên văn học dưới sự hướng dẫn của C.F. Gauss tại Göttingen, Đức. Trong thời gian này, ông đã có khoảng 20 bài viết về quan sát các sao chổi và tiểu hành tinh. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (ông là người Mỹ đầu tiên nhận được học vị tiến sĩ thiên văn), Gould đi đến tham quan nhiều đài thiên văn châu Âu với mục đích học hỏi kinh nghiệm chuẩn bị cho việc phát triển thiên văn chuyên nghiệp ở Hoa Kỳ.

Năm 1848, Gould quay trở lại Hoa Kỳ. Năm 1849, ông bắt đầu xuất bản «tạp trí Thiên văn» (Astronomical Journal, tạp trí vẫn còn tiếp tục được phát hành cho đến ngày nay). Trong thời gian từ năm 1852 đến 1867, ông tham gia các công việc việc tại "nha Kinh tuyến học" (longitude department) thuộc Cơ quan Nghiên cứu Bờ biển Hoa Kỳ. Ồng là một trong những người đầu tiên sử dụng các phương tiện điện báo để xác định kinh độ, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đường cáp tín hiệu xuyên Đại Tây Dương, kết nối châu Âu và châu Mỹ. Từ năm 1855 đến năm 1859, Gould đảm nhận nhiệm vụ giám đốc đài thiên văn Dudley. Năm 1861, ông đã đặt nền móng cho việc xuất bản các kết quả quan sát của đài thiên văn Hải quân Hoa Kỳ từ năm 1850. Ông cũng đã xây dựng một đài thiên văn riêng tại Cambridge, Massachusetts.


Ảnh: Benjamin Apthorp Gould (27/09/1824 – 26/11/1896)

Năm 1868, Gould đã giúp chính phủ Argentine xây dựng đài thiên văn quốc gia tại Córdoba. Ông cũng là giám đốc đầu tiên của đài thiên văn này. Trong thời gian làm việc ở Argentine (1968 - 1885), ông đã tiến hành lập bản đồ sao Bán thiên cầu nam. Trong thời gian từ năm 1870 đến 1874, ông cùng với 4 người phụ tá hoàn thành danh mục sao "Uranometria Argentina". Ông cũng đã cùng các đồng nghiệp Argentine xây dựng Trung tâm dự báo thời tiết quốc gia (trung tâm dự báo thời tiết đầu tiên ở Nam Mỹ). Trong 2 năm 1884 và 1885, ông hoàn thành hai cuốn danh mục với hàng chục nghìn ngôi sao. Ông được coi là một trong những người đi tiên phong trong việc ứng dụng kỹ thuật chụp ảnh vào các đo đạc thiên văn chính xác. Năm 1885, ông quay về Cambridge, Massachusetts. Từ năm 1877, Gould gia nhóm vật lý thiên văn khảo sát các đặc điểm của Ngân Hà.

Tên ông được đặt cho một vành đai các sao trẻ (chủ yếu có kiểu O và B) trong Ngân Hà (Gould Belt), một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 27 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_27.htm
[2]Wikipedia, 09/2007. Benjamin Apthorp Gould, http://en.wikipedia.org/wiki/Benjamin_Apthorp_Gould

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Edwin Hubble sinh ra tại thành phố Marshfield, bang Missouri, Hoa Kỳ. Năm 1898, gia đình ông chuyển đến sống tại thành phố Wheaton, bang Illinois. Hubble cũng rất có năng khiếu về thể thao, khi còn là học sinh trung học, ông đã từng phá kỷ lục về nhảy cao của bang Illinois. Năm 1910, ông tốt nghiệp đại học Chicago chuyên ngành toán và thiên văn. Sau đó, ông nhận được học bổng để học sau đại học tại trường Oxford. Tại đây, ông không tiếp tục theo đuổi thiên văn mà chuyển sang học luật. Năm 1913, ông quay trở lại Hoa Kỳ, làm giáo viên và huấn luyện viên bóng rổ tại trường trung học New Albany, bang Indiana. Ông cũng đồng thời là thành viên của hội luật sư Kentucky.

Tuy nhiên, niềm đam mê thiên văn học tiếp tục thôi thúc Hubble. Ông đã quay trở lại làm nghiên cứu sinh tại đài thiên văn Yerkes. Năm 1917, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: "Photographic Investigations of Faint Nebulae" (Nghiên cứu các tinh vân mờ dựa trên ảnh chụp) (lưu ý rằng tại thời điểm đó, khái niệm "nebula" bao gồm cả các thiên hà, đám sao và tinh vân).


Ảnh: Edwin Powell Hubble (20/11/1889 – 28/09/1953)

Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, Hubble tham gia thế chiến thứ nhất. Năm 1919, sau khi giải ngũ với quân hàm thiếu tá, ông làm việc tại đài thiên văn Mount Wilson, bang California. Trong giai đoạn từ năm 1923 – 1925, Hubble đã sử dụng chiếc kính thiên văn khổng lồ 100 inch Hooker tìm ra các biến tinh Cepheid trong các "tinh vân" NGC-6822, M-31 ("tinh vân" Andromeda) và M-33. Dựa trên các kết quả đo khoảng cách dựa trên biến tinh Cepheid, Hubble đã chứng minh những "tinh vân" trên thật sự nằm ngoài Ngân Hà của chúng ta, chấm dứt sự tranh cãi về "quy mô vũ trụ" đầu thế kỷ XX. Hubble cũng đã đưa ra hệ thống phân loại các thiên hà dựa trên hình dạng của chúng (thiên hà ellipse, thiên hà xoắn ốc và thiên hà không định hình).

Trong quá trình quan sát các thiên hà, Hubble đã nhận thấy rằng các thiên hà đang dịch chuyển ra xa nhau và vận tốc dịch chuyển tỉ lệ với khoảng cách. Năm 1929, ông đã khái quát hóa điều này thành "định luật Hubble" nổi tiếng. Phát hiện của Hubble đã khiến cho Einstein từ bỏ suy nghĩ vũ trụ là một hệ tĩnh. Năm 1931, Einstein đã đến thăm và cảm ơn Hubble.


Ảnh: Kính thiên văn phản xạ 100 inch Hooker

Thế chiến thứ 2 nổ ra, từ năm 1942, Hubble phục vụ cho quân đội Hoa Kỳ với vai trò cố vấn khoa học. Chiến tranh kết thúc, ông quay trở lại các công việc nghiên cứu tại đài thiên văn Mount Wilson. Ông đã tiếp tục xúc tiến quá trình xây dựng kính thiên văn phản xạ Hale của đài thiên văn Mount Palomar. Năm 1948, kính thiên văn Hale hoàn thành, Hubble là người đầu tiên sử dụng chiếc kính 200 inch này.

Hubble được tôn vinh là "cha đẻ của ngành Vũ trụ học quan sát" (father of observational cosmology). Những công trình của Hubble đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của Thiên văn học. Quy mô của “vũ trụ” không còn bị bó hẹp trong dải Ngân Hà của chúng ta, trong vũ trụ có vô vàn những thiên hà tương tự như vậy. Các thiên hà đang chuyển động ra xa nhau, vũ trụ đang giãn nở, ... Định luật Hubble là một trong những tiền đề cho sự ra đời của thuyết Bigbang.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh (asteroid 2069), một tinh vân (NGC-2261, "Hubble''s Variable Nebula"), định luật biểu diễn mối tương quan giữa vận tốc lùi xa của các thiên hà và khoảng cách từ chúng đến người quan sát. Ngày 24/04/1990, kính thiên văn vũ trụ Hubble đã được phóng vào không gian. Đây cũng là kính thiên văn đầu tiên trong hệ thống "NASA Great Space Observatories" bao gồm 4 kính thiên văn/đài thiên văn không gian : Hubble (quan sát chủ yếu tại bước sóng khả kiến), Compton (quan sát chủ yếu tại bước sóng tia gamma), Chandra (quan sát chủ yếu tại bước sóng tia X) và Spitzer (quan sát chủ yếu tại bước sóng hồng ngoại). Trải qua hơn 17 năm hoạt động, kính thiên văn Hubble giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển thiên văn học hiện đại và phổ biến Thiên văn học đối với cộng đồng.


Ảnh: Kính Hubble ngoài không gian (tàu Discovery chụp tháng 2 năm 1997)

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 28 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_28.htm
[2]Wikipedia, 09/2007. Edwin Powell Hubble, http://en.wikipedia.org/wiki/Edwin_Hubble
[3]JST, 2006-02-25. The Bruce Medalists, Edwin Powell Hubble, http://www.phys-astro.sonoma.edu/BruceMedalists/Hubble/index.html
[4]EdwinHubble.com, Last modified: March 25, 2003. Edwin Powell Hubble, Biography, http://www.edwinhubble.com/hubble_bio_001.htm

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ngày này năm xưa