Dữ liệu từ tàu thăm dò sao Hỏa MRO phát hiện ra những suối nước nóng cổ đại ở những khu vực gần miệng núi Vernal, nơi những dạng sống có thể đã tiến hóa trên Hỏa Tinh, theo một bản báo cáo mới đây.

Những suối nước nóng có ý nghĩa rất quan trong đến sự sống, khi những họ hàng gần nhất của nhiều những vi khuẩn cổ đại nhất trên Trái Đất có thể phát triển mạnh xung quanh những suối này. Nếu dạng sống từng có mặt trên Hỏa Tinh thì những suối nước nóng là những địa điểm lí tưởng để tìm kiếm những bằng chứng vật lí cũng như hóa học của những vi khuẩn này và có thể là những khu vực mục tiêu của những nhiệm vụ khám phá trong tương lai.

 

 

Carlton C. Allen và Dorothy Z. Oehler từ ban giám đốc nghiên cứu và khám phá vật chất vũ trụ ở trung tâm không gian Jóhnon của NASA, đề xuất rằng dữ liệu hình ảnh mới từ tàu MRO mô tả những cấu trúc trong Vernal Crater nới mà có khả năng là một phần của khu vực chính của hoạt động của suối nước nóng cổ. Dữ liệu này cho thấy rằng phần phía Nam của Vernal Crater đã trải qua một số giai đoạn mà nước chảy từ dưới mặt đất lên bề mặt và có thể là nơi mà sự sống trên Hỏa Tinh có thể đã phát triển.


"Những dòng suối nóng là những khu vực trong tâm cho những sứ mạng sao Hỏa sắp tới" theo lời Sherry L. Cady, tiến sĩ vật lí, biên tập viên lĩnh vực sinh vật học vũ trụ và  phó giáo sư của khoa vật lí tại đại học Portland.


"Những dòng suối như vật trên Trái Đất lưu giữ nhưng bằng chứng hóa thạch của những cộng đồng vi khuẩn cư ngụ trong một phạm vi không gian rộng. Khả năng tìm thấy những bằng chứng quan trong chứng minh sự sống - những cấu trúc sinh học, dấu vết của vi khuẩn, hóa thạch hóa học trong mỏ khoáng chất - là rất cao khi những dòng suối trầm tích hình thành từ những dòng chất lưu thuỷ nhiệt". Những dòng suối nóng mang đầy những ion khoáng bị phân hủy mà khi chúng lắng đọng và tạo thành những dòng thủy nhiệt, làm tăng quá trình hóa thạch của tất cả những dấu vết sinh học.


21/02/2009
(Theo Sciencedaily.com)

http://www.sciencedaily.com/releases/2009/02/090212112829.htm

Anh Minh - PAC.News

Những quá trình đặt nền móng cho sự sống trên Trái Đất - sự hình thành sao, hành tinh và những phần tử hữu cơ phức tạp trong không gian - đang tạo ra những bí mật cho các nhà thiên văn học được trang bị những công cụ nghiên cứu mạnh mẽ và những những công cụ tốt hơn cũng sẽ sắp được sử dụng.

Các nhà thiên vặn học đã mô tả 3 quá trinh phát triển quan trọng tại một chuyên đề về "Cái nôi vũ trụ của sự sống" trong một hội nghị thường niên của Hiệp Hội Tiến Bộ Khoa Học Mỹ ở Chicago.

Trong một bài thuyết trình, một nhóm các nhà hóa học thiên văn đã công bố một cách mới để tìm kiếm những phần tử phức tạp tiền thân của sự sống trong vũ trụ. Những dữ liệu hóa học, được xuất bản bởi Anthony Remijan của Đài Thiên Văn Vô Tuyến Quốc gia (NRAO) và đồng nghiệp, là một phần của dự án Khảo Sát Phân Tử Tiền Sinh Học (PRIMOS), một chương trình nghiên cứu vùng hình thành sao gần trung tâm thiên hà Milky Way.

PRIMOS là một sự nỗ lực của trung tâm của Cơ Sở Khoa Học Quốc Gia Về Hóa Học Vũ Trụ. Dự án này bắt đầu tại đại học Virginia vào tháng 10 năm 2008, dẫn đầu bởi tiến sĩ Brooks H. Pate. Dữ liệu được thu thập bởi kính thiên văn Byrd Green Bank (GBT) ở Tây Virginia đến từ 45 quá trình quan sát riêng rẽ với tổng cộng 9 gigabyte dữ liệu và hơn 1.4 triệu kênh tần số cá nhân.

Các nhà khoa học có thể tìm kiếm dữ liệu của GBT cho những tần số vô tuyến nhất định gọi là những dãy quang phổ -- được xem là dấu vết đươc phát ra từ những phần tử trong không gian. "Chúng tôi vừa nhận dạng hơn 720 dãy quan phổ trong bộ sưu tập này và khoảng 240 trong số đó là từ những phân tử chưa được biết đến", Remijan cho hay. Ông nói thêm: "Chúng tôi đang cho phép tất cả các nhà khoa học sử dụng dữ liệu dưới 50 GHz cho mục đích nghiên cứu hóa học vũ trụ".
 

Vòng tuần hoàn hóa học vũ trụ

Các nhà thiên vặn học đã nhận dạng được hơn 150 phần tử trong vòng 40 năm qua, bao gồm những phân tử hữu cơ phức tạp như đường hoặc rượu. "Đây là một bước ngoặt trong việc tìm kiếm những phân tử trong không gian", Remijan giải thích. "Trước đây, con người đã quyết đinh quá sớm những phần tử nào mà họ đang tìm kiếm, sau đó tìm trong vùng tần số rất nhỏ phát ra bởi những phần tử này. Trong bản khảo sát GBT, chúng tôi đã quan sat một khu vực với tần số rộng hơn, thu thập dữ liệu và ngay lập tức tìm ra. Các nhà khoa học ở khắp nơi có thể "khai thác" nguồn dữ liệu để tìm những phân tử mới".

Một báo cáo quan trong nữa được trình bày bởi Crystal Brogan của NRAO, cho thấy những hình ảnh rất chi tiết của "cụm sao tiền sử" của các ngôi sao trẻ khổng lồ tiết lộ một hỗn hợp sao của những quá trình hình thành khác nhau, những dòng khí phức tạp và vô vàn bằng chứng hóa học cho những điều kiện vật lí trong những "nhà trẻ" như vậy. "Chúng tôi đã chứng kiến một bức ảnh phức tạp hơn chúng tôi nghĩ và bây giờ chúng ta có thêm những câu hỏi mới cần trả lời", bà Crystal cho hay.

Bằng việc sử dụng đài vật lí thiên văn Smithsonian (SMA) ở Hawaii, Brogan và đồng nghiệp của bà đã nghiên cứu một tinh vân cách Trái Đất 5,5 nghìn năm ánh sáng trong chòm bọ cạp nơi mà nhưng ngôi sao đang hình nặng hơn rất nhiều so với Mặt Trời. "Điều này rất quan trong để hiểu được điều gì đang xảy ra trong những hệ thống giống như vậy bởi vì hầu hết các sao, bao gồm sao giống Mặt Trời được hình thành trong những cụm sao", Brogan cho hay.

"Những ngôi sao lớn nhật trong cụm sao này có một ảnh hưởng to lớn lên sự hình thành cũng như môi trường của phần còn lại của cụm, bao gồm những ngôi sao nhẹ hơn và hành tinh của chúng", Brogan nói. "Nếu chúng ta muốn hiểu được làm sao mà những hệ mặt trời có thể hỗ trợ sự sống và tiến hóa, chúng ta cần biết cách mà những ngôi sao khổng lồ này ảnh hưởng lên môi trường của chúng".

Những ngối sao trẻ khổng lồ này được bao quanh bởi những "nhân nóng" bao gồm vật liệu hữu cơ dồi dào mà sao đó có thể được phun vào không gian bởi gió sao hay gió mặt trời và những quá trình khác. Điều này có thể giúp "gieo" nên những vùng hình thành sao với một vài chất hóa học được tìm thấy bởi GBT và những kính thiên văn khác.

Thu hẹp vấn đề về cách những hành tinh hình thành trong các sao trẻ, David Wilner của trung tâm Havard-Smithsonian cho vật lí thiên văn đã trình bày những quan sát với SMA, đã tiết lộ những chi tiết mới về các hệ mặt trời trong thời kì đầu hình thành. Wilner và cộng sự đã nghiên cứu 9 đĩa bụi bao quanh những ngôi sao trẻ trong một vùng của chòm sao Ophiuchus.

"Đây là những bức ảnh chi tiết nhất của những đĩa bụi như vậy trong khoảng bước sóng này", Wilner cho hay. Những hình ảnh này cho thấy sự phân bố vật chất trên cùng một phạm vi như hệ Mặt Trời của chúng ta, và chỉ ra rằng những đĩa này có thể sản xuất những hệ hành tinh. Hai trong số đĩa được quan sát cho thấy những lỗ hổng trung tâm lớn nơi những hành tinh trẻ có thể đã hút những vật chất từ hàng xóm của chúng.

"Trước đây, chúng tôi biết rằng những đĩa bụi như vậy có đủ vật chất đẻ hình thành hệ mặt trời. Những hình ảnh mới cho chúng tôi biết vật liệu ở đúng vị trí mà có thể hình thành các hệ mặt trời. Chúng tôi đang nhìn thấy được những giai đoạn rất sớm của quá trình hình thành các hành tinh", Sean Andrews cho hay.

Tất cả 3 mảng nghiên cứu đã sẵn sàng cho những bước tiến quan trọng với sự có mặt của những cơ sở kính thiên văn vô tuyến tiên tiến mới như hệ thống Atacama (ALMA), hệ thống EVLA và GBT.

Những nghiên cứu về đĩa tiền hành tinh và các hệ mặt trời trẻ sẽ mang lại lợi ích to lớn từ khả năng đột phá của ALMA, Wilner phát biểu. "Trong khi chúng tôi vừa có đủ khả năng để nghiên cứu một vài trong số những vật thể này, ALMA sẽ có thể cho chúng tôi những hình ảnh với độ chi tiết cao nhiều hơn nữa mà hiện tại chúng tôi không thể có được. ALMA cũng sẽ có khả năng cung cấp thông tin mới về những hóa chất trong những hệ thống hành tinh đang trong quá trình hình thành".

Khả năng được tăng cường của EVLA sẽ giúp các nhà thiên văn học có thể nhìn sâu hơn vào những vùng bên trong đĩa này xung quanh các sao trẻ.

"Chúng tôi biết rằng những hóa chất phức tạp tồn tại bên trong giữa các vì sao trước khi những ngôi sao và hành tinh hình thành. Với công cụ nghiên cứu mới sẽ được đưa vào sử dụng trong những năm tới, chúng tôi đang bắt đầu nghiên cứu mối quan hệ giữa thành phần hóa học của những tinh vân, sao trẻ và môi trường của chúng, và những đĩa mà từ đó hành tinh được hình thành để hỗ trợ sự sống cơ bản trên những hành tinh đó".

13/02/2009
(Theo Sciencedaily.com)
http://www.sciencedaily.com/releases/2009/02/090212161814.htm

Anh Minh - PAC.News

Trong thiên hà của chúng ta, chúng ta quen với ý niệm rằng ngay cả những ngôi sao gần nhất cũng cách vài năm ánh sáng từ Mặt Trằng. Nhưng một nhóm các nhà khoa học dẫn đầu bởi giáo sư Pavel Kroupa của đại học Bonn cho rằng mọi thứ rất khác trong thuở khai sinh vũ trụ.

Cụ thể, những thiên hà sao lùn nâu siêu đặc (UCDs), một đối tượng mới được phát hiện gần đây, có thể đã có những ngôi sao gần nhau một triệu lần so với những ngôi sao trong hệ Mặt Trời, theo những tính toán được thực hiện bởi thành viên nhóm và nghiên cứu sinh tiến sĩ vật lý Joerg Dabringhausen và được thuyết trình trong Cộng Đồng Thiên Văn Hoàng Gia (Royal Astronomical Society).

 Phần nền của hình được chụp bởi tiến sĩ Michael Hilker của đại học Bonn, sử dụng kính thiên văn Du pont đường kính 2 met. Hai ô vuông là hình ảnh của 2 thiên hà sao lùn cận cảnh.

Vì thế trong những thiên hà sao lùn ngày nay, một phần của khối lượng là những tàn dư tối này, phần lớn là không nhìn thấy được từ những kính thiên văn mặt đất.

UCSs được phát hiện ra vào năm 1999. Mặc dù chúng rất lớn, rộng khoảng 60 năm ánh sáng, nhưng nhỏ hơn 1/1000 đường kính thiên hà Milk Way của chúng ta. Các nhà thiên văn học tin rằng các UCD được hình thành khi nhiều thiên hà bình thường va chạm với nhau trong thời kì đầu của vũ trụ. Nhưng điều lạ là dựa vào ánh sáng từ những ngôi sao trong UCD, rõ rằng những UCD nặng hơn những ngôi sao này.

Cho đến bây giờ, vật chất tối được gợi ý để giải thích khối lượng bị mất này, nhưng các nhà khoa học không nghĩ rằng có đủ vật chất tối trong một UCD để bù vào khối lượng bị mất này. Trong bài luận của ông Dabringhausen, tiến sĩ Kroupa và đồng nghiệp Holger Baumgardt đưa ra một cách giải thích khác.

Họ cho rằng tại một thời điểm, mỗi UCD có một mật độ sao cao một cách đáng kinh ngạc với khoảng 1 triệu sao trong mỗi một đơn vị thể tích năm ánh sáng, so với 1 trong vùng không gian quanh Mặt Trời. Những ngôi sao này sẽ đủ gần để sát nhập và tạo ra nhiều sao có khối lượng lớn hơn nhiều ở nơi đó. Những ngôi sao lớn hơn này "tiêu thụ" hydro nhanh hơn, trước khi kết thúc cuộc đời chúng trong những vụ nổ siêu tân tinh. Sau đó có thể tồn tại một sao nơtron siêu đặc hoăc có thể là một lỗ đen.

Ông Dabringhausen cho hay: "Hàng tỉ năm trước, các UCD phải rất khác thường. Để có được một số lượng lớn sao sát lại với nhau là điều rất lạ mà chúng ta thấy ngày nay. Một thiết bị quan sát [giả định] trên một hành tinh trong một UCD sẽ chứng kiến một bầu trời đêm sáng như ban ngày trên Trái Đất".

13/02/2009
(Theo Sciencedaily.com)

http://www.sciencedaily.com/releases/2009/02/090212093900.htm

Anh Minh - PAC.News

Một bản đồ chi tiết mới về Mặt Trăng được xuất bản hôm thứ 5 cho thấy vệ tinh của Trái Đất chứa rất ít nước và xuất hiện những miệng núi mới ở vùng cực, một nhóm nghiên cứu quốc tế cho hay.

"Bề mặt Mặt Trăng có thể cho chúng ta biết nhiều thông tin về chuyện gì đang xảy ra bên trong Mặt Trăng, nhưng cho đến bây giờ việc xây dựng bản đồ vẫn còn rất hạn chế", C.K Shum, giáo sư bộ môn khoa học Trái Đất tại đại học bang Ohio - cho biết trong tạp chí Khoa học số 13.

"Ví dụ, với bản đồ độ phân giải cao này, chúng tôi có thể xác định rằng có rất ít nước trên Mặt Trăng ngày nay, ngay cả sâu bên trong ruột của nó. Và chúng tôi có thể sử dụng thông tin này để suy nghĩ về nước trên những hành tinh khác, bao gồm cả Hỏa Tinh".

Các nhà nghiên cứu đã cho thấy rằng bề mặt Mặt Trăng rất ghồ ghề, so với bề mặt khá linh hoạt của vỏ Trái Đất, có thể tăng lên hoặc giảm xuống khi nước chảy bên trên hay bên dưới mặt đất.
 
 Trái Đất mọc nhìn từ tàu SELENE của Nhật Bản
 
Bề mặt cứng có thể ngụ ý tới rất ít nước, các nhà nghiên cứu cho hay. Nếu có nước ở đó, ngay cả sâu trong lòng Mặt Trăng, bề mặt sẽ linh hoạt hơn bề mặt thực tế cho thấy.

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng một dụng cụ đo độ cao laze (LALT) ở vệ tinh SELENE của Nhật Bản và 2 vệ tinh nhỏ khác để chụp những hình ảnh trên đường kinh 15 km toàn bộ bề mặt.

"Công nghệ này đã cải tiến đáng kể khả năng của chúng ta thiết lập mô hình trường trọng lực trên Mặt Trăng và cho phép chúng ta tính toán được quĩ đạo vệ tinh chính một cách chính xác hơn, đặc biệt ở phía mặt bên kia của Mặt Trăng", Shum nói.

Điểm cao nhất của Mặt Trăng cách 11km ở phía trên vùng lòng chảo Dririchlet-Jackson gần xích đạo. Điểm thấp nhất tại 9 km nằm ở đáy của miệng núi Antoniadi gần cực Nam.

Bản đồ này đã tiết lộ những miệng núi lửa chưa từng được nhìn thấy tại cực, bao gồm một miệng núi rộng 15 km tại cực Nam.

Những thông tin mới sẽ giúp hướng dẫn những xe thăm dò Mặt Trăng trong tương lai trong những nhiệm vụ nghiên cứu địa lý.

21/02/2009
(Theo Spacedaily.com)

http://www.moondaily.com/reports/Detailed_map_shows_dry_Moon_999.html

Anh Minh - PAC.News

Chúng ta từng chứng kiến những mảnh vụn ngoài không gian đôi lần va vào những vệ tinh đang hoạt động nhưng chưa có bằng chứng cụ thể để khẳng định phỏng đoán này.

Mọi thứ đã thay đổi trong sự kiện lần này. Vào ngày 10 tháng 2, một vệ tinh thương mại đang hoạt động và một tàu không gian bất hoạt của Nga đã di chuyển vào cùng một vị trí trong không gian cùng lúc.

Cả hai tàu đều đang bay với vận tốc 16,800 MPH (26,800 KPH). Khi chúng ở những mặt phẳng quĩ đạo khác nhau, vận tốc của chúng ít nhất cũng là vài trăm dặm một giờ. Một trong những nút điện thoại di đọng của Iridium ngay lập tức bị vỡ vụn sau vụ va chạm.

 

 

Hai vệ tinh va chạm trong không gian ở quĩ đạo cách Trái Đất vài trăm dặm, phá hủy một vệ tinh thương mại Iridium và có thể dẫn đến sự gián đoạn dịch vụ, công ty Mỹ này cho hay. "Trong khi đây là một hiện tượng cực kì khác thường, khả năng xảy ra rất thấp, nhóm vệ tinh của Iridium được thiết kế để chống lại những sự kiện như thế và công ty đang tiến hành những bước cần thiết để thay thế vệ tinh bị mất".

Những mãnh vụn của vụ va chạm góp phần làm gia tăng số lượng các mảnh vụn không gian sẵn có ở quĩ đạo thấp. Khi 2 vệ tinh này va chạm tại độ cao 491 dặm, những mảnh vụn mới này sẽ tồn tại trên quĩ đạo hàng thập kỉ có thể là hàng thế kỉ.

Vệ tinh của Iridium là một phần của một nhóm hơn 66 vệ tinh giống nhau. Vì thế, sự kiện này làm tăng nhanh chóng khả năng của những vụ va chạm tiếp theo giữa những vệ tinh của Iridium và nhiều những vệ tinh thương mại cũng như chính phủ khác.

Câu hỏi quan trọng đặt ra là "Chúng ta có thật sự quan tâm đến việc kiểm soát những mảnh vụn trên quĩ đạo?"

Có một khả năng thực tế là vụ va chạm này sẽ khởi tạo một chuỗi các vụ va chạm khác. Những vê tinh Iridium khác có thể va vào những mảnh vụn từ sự kiện này 10 tháng 2 này.

Tỉ lệ của những vụ va chạm có thể tăng theo hàm mũ cho đến khi tất cả 66 nút vệ tinh của Iridium trở thành những mảnh vụn không gian. Một loạt các vụ va chạm sau đó sẽ tạo ra hàng ngàn mảnh vỡ mới mà sẽ có nguy cơ đe dọa những vệ tinh khác.

Thời gian trung bình giữa những vụ nổ có thể được giảm từ 10 năm xuống còn 1 năm hoặc ít hơn. Một điều chăc chắn là cho dù điều gì xảy ra ở phía Bắc Siberia vào thứ 3 đều sẽ bất lợi cho những chuyến bay không gian.

Nếu có tin tốt lành từ sự cố này thì trạm vũ trụ quốc tế ở quĩ đạo thấp hơn quĩ đạo của vụ va chạm sẽ không bị ảnh hưởng tức thời bởi các mảnh vụn.

Tuy nhiên, có khả năng là một số mảnh vụn sẽ ngăn cản độ cao của trạm vũ trụ. Một bức tranh đầy đủ của sự phân bố mảnh vỡ sẽ chưa có trong một vài ngày tới.

Kết quả giám sát ban đầu cho thấy rằng có khoảng gần 300 mảnh vỡ có thể được phát hiện nhưng kinh nghiệm cho thấy có thể có hàng ngàn mảnh vỡ nhỏ không thể được phát hiện một cách dễ dàng.

Khi những mảnh vỡ tràn ra khắp nơi, nhiều hệ thống giám sát khác nhau sẽ thu gom chúng để ngăn chặn sự nguy hiểm này.

Hãy tưởng tượng rằng điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả 95 vệ tinh Iridium được phóng trong khoảng thời gian từ 1997 đến 2002 va chạm với nhau?

Sự kiện này phát đi một lời cảnh báo cho tất cả những ai sử dụng không gian. Có thể sẽ không có truyền hình vệ tinh, những bức ảnh thời tiết từ không gian, hệ thống GPS v.v.

11/02/2009
(Theo Spacedaily.com)

[url]http://www.spacemart.com/reports/It_Finally_Happened_Two_Satellites_Collide_999.html[/url]

Anh Minh - PAC.News

Nhà công nghệ nano Chris Lodewijk vừa thành công trong việc tăng đáng kể độ nhạy bén của những "siêu kính viễn vọng" ở Chile. Ông cũng sẽ nhận bằng tiến sĩ vật lí (PhD) cho đề tài này tại Đại học công nghệ Delft vào thứ 2 ngày 2 tháng 2.

Trong sa mạc Atacama của Chile, các kĩ sư và nhà thiên văn học từ nhiều nơi trên thế giới hiện tại đang làm việc với hệ thống kính viễn vọng ALMA (Atacama Large Milimeter Array). Hệ thống này gồm 66 kính thiên văn tiên tiến sẽ được đặt tại độ cao 5 nghìn met so với mặt nước biển và cũng sẽ cung cấp hình ảnh chính xác hơn về vũ trụ. Chúng chủ yếu nhắm đến việc giải thích sự hình thành của sao và các hành tinh. ALMA được hi vọng đưa vào phục vụ trong năm 2012 và được xem như là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực này.

Nhôm Nitrit

Những nhà thiên văn học Hà Lan cũng gần như tham gia vào phát triển ALMA trong sự hợp tác đầy hứa hẹn với các nhà công nghệ nano. Đóng góp mới nhất đến từ Chris Lodewijk và kĩ sư Tony Zijstra tại đại học Delft thuộc viện khoa học nano Kavli. Họ vừa thành công trong tăng độ nhạy của ALMA trong một phạm vi tần suất rộng bằng cách cải tiến chức năng của bộ phận chính là bộ cảm biến bức xạ.

Bộ cảm biến này còn được gọi là super-conducting tunnel junctions. Những cảm biến này bao gồm 2 mạch siêu dẫn bị tách biệt bởi một lớp cách điện (1-2 nanomet), thường là oxit nhôm với khu vực 500x500 nanomet.

Bộ cảm biến siêu dẫn

Tuy nhiên, không thể tránh được một lớp rất mỏng (khoảng 1 nanomet của oxit nhôm rò rỉ ở một số lỗ nhất định. Do đó, Lodewijk và Zijlstra đã tiến hành nghiên cứu việc thay thế nhôm oxit bằng nitri nhôm (AIN) với một số kết quả rất tốt. Một lớp nitrit nhôm có thể thuần nhất hơn và độ nhạy trong khoảng 602 đến 720  Ghz cũng được cải thiện đáng kể.

Kính thiên văn không gian Herchel

Đề tài nghiên cứu của Lodewijk về cảm biến siêu dẫn tình cờ cũng rất quan trọng trong việc thực hiên chức năng của kính viễn vọng không gian Herschel sẽ được phóng lên vào tháng 4 tới. Kính Herschel sẽ kế vị kính thiên văn Hubble. Viện Kavli của đại học Delft vừa phát triển nhiều bộ cảm biến siêu dẫn cho trang bị đo đạc của kính Herschel

10/02/2009
(Theo Sciencedaily.com)

http://www.sciencedaily.com/releases/2009/02/090202102940.htm

Anh Minh - PAC.News

Khi các thiên hà được sinh ra, có phải những ngôi sao của chúng hình thành ở khắp nơi cùng một lần hay chỉ trong vùng trung tâm mà thôi? Những đo đạc gần đây của một nhóm quốc tế được dẫn đầu bởi các nhà khoa học từ viện thiên văn Max Planck cung cấp những bằng chứng cụ thể đầu tiên rằng những vùng hình thanh sao trong những thiên hà sơ sinh thực ra là rất nhỏ nhưng cũng rất "hiếu động", sản sinh sao với tốc độ đáng kinh ngạc.

Những thiên hà, bao gồm cả Milk Way của chúng ta, chứa đựng hàng trăm tỉ ngôi sao. Làm thế nào mà những hệ thống thiên hà khổng lồ như thế đã hình thành? có phải một vùng trung tâm với các sao sau đó phát triển lên? Hoặc những sao này hình thành cùng một lúc trong khắp thiên hà? Một nhóm nghiên cứu quốc tế được dẫn đầu bởi các nhà nghiên cứu từ viện thiên văn Max Planck đang tiến gần tới câu trả lời.

Nhóm này đã nghiên cứu một trong những thiên hà xa nhất được biết đến, cũng được gọi là một chuẩn tinh kí hiệu J1148+5251. Ánh sáng từ thiên hà này mất khoảng 12.8 tỉ năm để đến Trái Đất; do vậy, các quan sát thiên văn về thiên hà này khi nó 12.8 tỉ năm trước, cung cấp một cái nhìn khái quát về những giai đoạn rất sớm của tiến hóa thiên hà, khoảng dưới 1 tỉ năm sau vụ nổ Big Bang.

Với dụng cụ đọ giao thoa IRAM (IRAM Interderometer), một kính thiên văn vô tuyến của Đức-Pháp-Tây Ban Nha, các nhà nghiên cứu có thể thu được những hình ảnh rất đặc biệt: họ thu thập những sóng ở bước hồng ngoại thoát ra bởi J1148+5251 ở tần số nhất định với các nguyên tử cacbon bị ion hóa. Những nguyên tử này là một chỉ số đáng tin cậy của trong quá trình hình thành sao.

Những hình ảnh thu được cho thấy những chi tiết đủ để lần đầu tiên cho phép đo đạc kích cỡ của một vùng hình thành sao ở giai đoạn rất sớm. Với thông tin này, các nhà nghiên cứu có thể kết luận rằng, vào thời điểm đó, các ngôi sao hình thành trong trung tâm J1148+5251 với tốc độ nhanh kỉ lục - sự hình thành sao có thể mâu thuẫn với những định luật vật lí.

"Tốc độ hình thành sao của thiên hà này thật đáng kinh ngạc", theo lời tác giả chính của bài báo, Fabian Walter của viện Max Planck. "Mỗi năm, vùng trung tâm của thiên hà này sản sinh sao mới với khối lượng của một ngàn Mặt Trời cộng lại". Trái lại, tốc độ hình thành sao trong thiên hà chúng ta khoảng gần khối lượng của Mặt Trời mỗi năm.

Gần đến giới hạn vật lí

Những thiên hà trẻ có thể sản sinh lượng sao mới rất lớn, nhưng nhìn chung hoạt động này chỉ là một phần. Không biết được kích thước của vùng hình thành sao, chúng ta không thể so sánh sự hình thành sao trong những thiên hà này với những mẫu lí thuyết, hoặc với những vùng hình thành sao trong thiên hà chúng ta.

Với đường kính gần 4 nghìn năm ánh sáng (đường kính của Milk Way khoảng 100 nghìn năm ánh sáng), nhân hình thành sao của J1148+5251 đặc biệt có năng suất. Trên thực tế, nó gần chạm đên những giới hạn của những định luật vật lí. Các ngôi sao được hình thành khi những đám mây khí và bụi trong vũ trụ bị sụp đổ dưới trong lượng của chúng. Khi những đám bụi sụp đổ, nhiệt độ tăng lên và áp suất bên trong bắt đầu hình thành. Khi áp lực này đạt đến một mức độ nhất định, quá trình sụp đổ dùng lại và không có sao nào được hình thành thêm. Kết quả là một giới hạn lớn nhất cho số lượng sao có thể hình thành trong một khoảng không gian có sẵn trong một thời gian nhất định.

Tốc độ hình thành sao của vùng Orion-KL trong tinh vân Orion có thể được so sánh với vùng trung tâm của J1148+5251 những ở khoảng không gian nhỏ hơn nhiều. (NASA, ESA, Robberto, nhóm dự án Orion Treasury)


 Đáng ngạc nhiên là nhân hình thành sao của J1148+5251 gần như đạt được giới hạn này. Mức cao nhất của hoạt động có thể được tìm thấy trong một số phần của thiên hà chúng ta, nhưng chỉ trên phạm vi nhỏ hơn nhiều. Ví dụ, phần trung tâm của tinh vân Orion (hình) vừa hoạt động mạnh ngay lúc chúng tôi quan sát. Fibian Walter cho hay: "Những trong J1148+5251, chúng tôi đang quan sát một lượng bằng một trăm triệu vùng nhỏ hơn như thế này cộng lại". Những quan sát ban đầu của những thiên hà khác nhau chỉ ra rằng giới hạn cao nhất chỉ bằng một phần mười giới hạn cao nhất được quan sát trong J1148+5251.

Sự phát triển bên trong

Vùng hình thành sao đặc chắc của J1148+5251 cung cấp một lượng dư liệu rất thú vị cho các nhà nghiên cứu sự tiến hóa của các sao trẻ. Các thiên hà hình thành từ bên trong: trong những giai đoạn đầu hình thành, có một vùng nhân nơi các sao hình thành rất nhanh. Có lẽ, những vùng nhân như vậy lớn lên theo thời gian, chủ yếu là kêt quả của những va chạm và hợp nhất giữa các thiên hà. Điều này dẫn đến những thiên hà trưởng thành với số lượng sao cực lớn.

Điểm quan trọng của những kết quả này là một sự đo đạc mới: hình ảnh đầu tiên của nhân một chuẩn tinh cực xa, cho thấy đường kính của vùng này một cách rõ ràng. Đo đạc này quả là một thách thứ lơn. Ở một khoảng cách khoảng 13 tỉ năm ánh sáng, vùng hình thành sao này với đường kính 4 nghìn năm ánh sáng, có đường kính góc là 0.27 giây đường cung - kích thước của một đồng xu euro, được quan sát ở một khoảng cách khoảng 18 kilomet.

Một sự cản trở là những quan sát này dựa trên bước sóng điện từ với một bước sóng tiêu biểu, kết hợp với những nguyên tử cacbon bị ion hóa. Tại bước sóng này, những vùng hình thành sao của J1148+5251 sáng hơn ngay cả nhân của chuẩn tinh này. Do vũ trụ đang giãn nở, tia bức xạ được chuyển thành những bước sóng dài hơn khi nó đến Trái Đất (hiện tượng này gọi là cosmological redshift). Bức xạ này đến Trái Đất dưới dạng sóng radio với bước sóng khoảng 1 milimet. Nhưng, bởi vì đặc điểm thông thường của sóng, khó hơn một ngàn lần để phân tích những chi tiết tỉ mỉ tại bước sóng 1 milimet so với bước sóng nhìn thấy.

Những quan sát tại bước sóng yêu cầu và mức độ chi tiết chỉ mới trở thành hiện thực từ năm 2006, nhờ vào một dụng cụ giao thoa tiên tiến IRAM, một kính thiên văn vô tuyến ghép ở Plateau de Bure (trên dãy An-pơ của Pháp).

Những kính viễn vọng của tương lai

Việc sử dụng những bức xạ tiêu biểu của các ion cacbon để phát hiện và thiết lập hình ảnh của những vùng hình thành sao của những vật thể cực kì xa đã được đề nghị một vài lần trước đây. Một phần lơn của các chương trình quan sát cho ALMA, một kính thiên văn vô tuyến ghép hiện tại đang được xây dựng ỏ Bắc Chile, dựa vào phương thức quan sát này. Nhưng, cho đến những đo đạc của Fabian Walter và đồng nghiệp, kĩ thuật này vẫn chưa được chứng minh trong thực tiễn. Theo lời Walter: "Những giai đoạn đầu của tiến hóa thiên hà, khoảng 1 tỉ năm sau vụ nổ Big Bang, sẽ là mảng nghiên cứu chính trong những năm sắp tới. Những đo đạc của chúng tôi mở ra cánh của mới cho những vùng hình thành sao của những thiên hà rất trẻ".

07/02/2009
(Theo Sciencedaily.com)

http://www.sciencedaily.com/releases/2009/02/090205101119.htm

Anh Minh - PAC.News

"Thông tin về kích cỡ và hình dạng của các thiên thạch đóng vai trò rất quan trọng trong việc hiểu được làm thề nào mà bụi và các mảnh đá vụn tụ tập với nhau để hình thành những cấu trúc lớn hơn và những vụ va chạm cũng như sự tái tích tụ đã thay đổi chúng trong thời kì đầu của hệ Mặt Trời", theo lời Marco Delbo từ đài quan sát Côte d'Azur, Pháp, người dẫn đầu nghiên cứu này.

Việc xây dựng hình ảnh trực tiếp bằng những kính thiên văn mặt đất khổng lồ như VLT (Very Large Telescope) ở Chile và những kính thiên văn không gian hoặc những dụng cụ radar là những phương thức đang được ưa chuộng trong việc đo đạc những thiên thạch. Tuy nhiên, việc xây dựng hình ảnh trực tiếp nhìn chung bị giới hạn khi quan sát vành đai chính (the main belt) của một trăm thiên thạch, trong khi những dụng cụ radar gần như phải tiến hành những quan sát những thiên thạch gần Trái Đất mà có khả năng va chạm vào Trái Đất.

 Hình ảnh mô phỏng thiên thạch Barbara. Nhờ vào công nghệ áp dụng hiên tượng giao thoa, lần đầu tiên các nhà thiên văn học có thể đo đạc kích thước của những thiên thạch nhỏ.


Delbo và cộng sự vừa tìm ra một cách mới bằng cách ứng dụng hiện tượng giao thoa (interderometry) để nghiên cứu những thiện có đường kính nhỏ đến 15 km ở trong vòng đai chính, cách chúng ta khoảng 200 triệu km. Điều này đồng nghĩa với khả năng đo được kích thước của một trái banh tennis ở khoảng cách 1 ngàn km. Kĩ thuật này sẽ không chỉ tăng số mục tiêu có thể đo đạc một cách nhanh chóng mà còn quan trong hơn là tiến đến nghiên cứu những thiện thạch nhỏ mà rất khác về mặt vật lí với những thiên thạch lớn hơn đã được nghiên cứu kĩ lưỡng.

Công nghệ giao thoa kết hợp ánh sáng từ 2 kính viễn vọng hoặc hơn. Các nhà thiên văn học đã chứng minh việc sử dụng kính VLTI của ESO (Tổ chức nghiên cứu thiên văn châu Âu), kết hợp ánh sáng của 2 kính VLT có đường kính 8.2 met. "Nó tương đương với việc có được tầm nhìn với một kính viễn vọng với đường kính bằng với khoảng cách giữa 2 kính được sử dụng, trong trường hợp này là 47 met", theo lời đồng tác giả của công trình là Sebastiano Ligori.

Những nhà nghiên cứu này đã áp dụng kĩ thuật của họ cho vành đai thiên thạch chính (234) Barbara. Vành đai này đã được tìm ra trước đó bởi Alberto Cellino. Mặc dù vành đai này ở rất xa nhưng những quan sát của VLTI cũng tiết lộ rằng mục tiêu này có hình dạng khác thường. Mẫu phụ hợp nhất bao gồm 2 phần với được kính 37 và 21 km, tách biệt với nhau 24 km. "Hai phần này dường như chồng chéo nhau", Delbo cho hay, "vì thế vật thể này có hình dạng giống một hạt đậu phộng khổng lồ hoặc nó có thể là 2 phần riêng rẽ quay quanh lẫn nhau."

Nều Barbara là một thiên thạch "kép", điều này thực sự là rất đáng chú ý: bằng việc kết hợp những dụng cụ đo đường kính với những tham số của quĩ đạo, các nhà thiên văn học sau đó có thể ước tính được mật độ của những vật thể này. "Barbara rõ ràng là một mục tiêu được ưu tiên ở mức cao cho những quan sát trong tương lai", Ligori kết luận.

Chứng minh được sự đúng đắn của công nghệ mới mà mạnh mẽ của họ, nhóm nghiên cứu bây giờ có thể bắt đầu quan sát những thiên thạch cỡ nhỏ.

05/02/2009
(Theo Sciencedaily.com)

http://www.sciencedaily.com/releases/2009/02/090204085309.htm

Anh Minh - PAC.News



 Các nhà thiên văn học Đông Á đang xây dựng hệ thống kính thiên văn vô tuyến lớn nhất thế giới để quan sát sâu hơn vào trong thiên hà cũng như các hố đen và xác định chính xác hơn quĩ đạo của các tàu do thám quay quanh Mặt Trăng như Chang'e-1 của Trung Quốc.

Mạng anten này được gọi là VLBI (Very Long Baseline Interferometry), gồm 19 kính thiên văn vô tuyến của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Mạng này bao bọc một khu vực với đường kính 6 ngàn kilomet từ đảo Hockaido phía bắc Nhật Bản đến Kunming và Urm ở phía tây Trung Quốc.

Công nghệ VLBI được sử dụng rộng rãi trong thiên văn vô tuyến. No kết hợp nhiều sự quan sát cùng một lúc do sử dụng nhiều kính viễn vọng để mở rộng đường kính và tăng độ phóng đại.

Shen Zhiqiang, tổng thư kí của ủy ban quản lí dự án này phát biểu trên tờ Nhật Báo Xinhua rằng nhóm dự án vừa tiến hành những quan sát thử nghiệm và trao đổi học thuật thường xuyên từ khi ý tưởng này bắt đầu trong năm 2003.

Theo kế hoạc phát triển của dự án, một trong những nhiệm vụ chính là cải thiện bản đồ 3D của thiên hà Milky Way được xây dựng bởi VERA (VLBI Exploration of Radio Astromery) của Nhật.

Hideyuki Kobayashi, giám đốc đài thiên văn Mizusawa cho hay, nhóm dự án sẽ giúp các nhà thiên văn học có được những dữ liệu chất lượng cao về cấu trúc thiên hà.

Những quan sát toàn diện sẽ bắt đầu trong năm 2010, sẽ kêt nối ít nhất 12 trạm của Nhật và 4 trạm của Trung Quốc, 3 trạm khác của Hàn Quốc đang được xây dựng.

Shen cho hay, "Số lượng thực tế của kinh viễn vọng có thể thay đổi khi các nước liên quan lên kế hoach xây dựng những kính viễn vọng mới như kính vô tuyến đường kinh 65 met đang được xây dựng ở Thượng Hải".

"Thêm vào đó, các nhà thiên văn học Trung Quốc vừa đặt được thành cộng to lớn khi áp dụng cộng nghệ VLBI để xác định quĩ đạo của tàu Chang'e-1, tàu do thám Mặt Trăng đầu tiên của Trung Quốc".

Nhóm nghiên cứu của Shen cũng đã sử dụng VLBI để tìm kiếm bằng chúng thuyết phục nhất rằng có một hố đen siêu trọng lượng tại trung tâm thiên hà của chúng ta.

"Nhưng chúng tối đang tiến hành các cuộc kiểm tra nhiều nhất có thể để chuẩn bị cho việc hợp tác với Nhật Bản và Hàn Quốc".

Mạng lưới VLBI thông báo vào ngày 20 tháng 1 rằng hệ thống này đã sử dụng thành cộng Internet để đạt được truyện dữ liệu tốc độ cao gọi là e-VLBI, một hường quan trong cho sự phát triển của cộng nghệ VLBI trong tương lai.

"Công nghệ e-VLBI sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc khám phá Mặt Trăng và Sao Hỏa của Trung Quốc".

Trong khí đó, các nhà thiên văn học Hàn Quốc và Nhật Bản đang hợp tác để xây dựng ở Seoul một phòng thí nghiệm để xử lí lượng lớn dữ liệu thành những hình ảnh với độ phân giải cao.

Kính thiên văn vô tuyến khác với các loại kính thông thường ở điểm chúng sử dụng các aten vô tuyến để tìm kiếm và thu thập dữ liệu từ các vệ tinh và tàu thăm dò. Anten vô tuyến được sử dụng đầu tiên để nhận dạng các nguồn vô tuyến được xây dựng bởi Karl Guthe Jansky, một kĩ sư vào đầu những năm 30.

03/02/2009
(Theo Spacedaily.com)

http://www.spacedaily.com/reports/East_Asia_Builds_World_Largest_Radio_Telescope_Network_999.html

Anh Minh - PAC.News

 Những hình ảnh gần đây về vệ tinh Titan của Thổ Tinh từ vệ tinh Cassini xác nhận sự hiện diện của những hồ chứa hydrocacbon dạng lỏng bằng việc chụp những bức ảnh về sự thay đổi ở những hồ này được mang đến bởi các trận mưa.


Trong vòng nhiều năm qua, các nhà khoa học cho tàu Cassini nghi ngờ răng những khu vực tối gần cực Bắc và Nam của vệ tinh lớn nhất của Thổ Tinh có thể là những vùng hồ chứa chất lỏng. Một nghiên cứu được đăng trên tờ Geophysical Research Letters về những bức ảnh gần đây về vùng cực nam Titan cho thấy rằng đặc điểm của những hồ mới này không xuât hiện trong những bức ảnh được chụp trước đây ở cùng một khu vực. Sự xuất hiện của các đám mây lớn bao bọc vùng này cho thấy rằng những hồ mới này có thể là kết quả của một cơn bão lớn và do đó sự xuất hiện, kích thước và sự phân bố của một số hồ trên bề mặt Titan là do thời tiết và sự thay đổi của mùa.

Những camera với độ phân giải cao đã khảo sát gần như toàn bộ bề mặt của Titan. Một bản đồ mới được cập nhật chuẩn bị được công bố ngày hôm nay bới nhóm hình ảnh Cassini, bao gồm những hình ảnh gần tia hồng ngoại đầu tiên của phần bán cầu dẫn đường (leading hemisphere) của vùng hồ phía bắc được chụp vào 15-16 tháng 8 năm 2008. (Phần bán cầu dẫn đường của một mặt trăng là phần mà luôn luôn hướng theo hướng di chuyển của mặt trăng vòng quanh hành tinh chủ).

Những quan sát như vậy cho thấy khả năng chứa metan lỏng ở bán cầu bắc lớn hơn ở bán cầu nam. Và khi bán cầu bắc là mùa hè, các nhà khoa học dự đoán những đám mây đối lưu sẽ hình thành ở đó, và lượng mưa lơn hơn lượng mưa ở cực nam có thể lấp đầy nhưng hồ phía bắc bằng hydrocacbon.

Một vài hồ ở cưc Bắc rất lớn. Nếu đầy, Kraken Mare - khoảng 400 ngàn kilomet vuông - sẽ lớn gần gấp 5 lần hồ Superior ở Bắc Mỹ. Tất cả các hồ ở phía bắc được quan sát có tổng diện tích lên đến hơn 500 ngàn kilomet vuông - 40% lớn hơn hồ lớn nhất trên Trái Đất là biển Caspi.

Tuy nhiên, sự bốc hơi từ những hồ lớn này không đủ lớn để bù lượng metan bị mất từ khí quyển bởi các trận mưa và bởi sự hình thành và lắng đọng trên bề mặt của các phần tử có nguồn gốc metan.

"Một nghiên cứu gần đây cho thấy rằng không đủ metan lỏng trên bề mặt Titan để tái cung cấp cho khí quyển trong một khoảng thời gian địa chất (geologic timescale) dài", theo lời tiến sĩ Elizabeth Turtle. "Bản đồ mới của chúng tôi cung cấp thêm thông tin về các cực của Titan, ngay cả khi tất cả nhưng đặc điểm chúng ta thấy, lượng metan là không đủ để duy trì khí quyển trong vòng hơn 10 triệu năm".

Kết hợp với nhưng phân tích trước đây, những quan sát mới này chỉ răng rằng những hồ metan ngầm phải tồn tại.

Titan là vệ tinh duy nhất trong hệ mặt trời có bầu khí quyển dày trong đó có tồn tại một chất hóa học hữu cơ phức tạp. "Khí quyển của Titan có thể tồn tại trong bao lâu hoặc có thể tiếp tục tồn tại là một câu hỏi còn bỏ ngỏ".

Câu hỏi đó và những câu hỏi khác liên quan đến khí tượng của mặt trăng này và vòng tuần hoàn mùa của nó có thể được giải thích nhiều hơn bởi sự phân bố chất lỏng trên bề mặt. Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu tại sao những chất lỏng tập trung tại cực hơn là tại những khu vực vĩ đọ thấp, nơi có nhiều cát.

"Vùng chí tuyến có thể khá khô bởi vì nơi đó có ít thời gian mưa trong mùa xuân và giảm khi lượng ánh sáng mặt trời thay đổi giữa các bán cầu", theo lời tiễn sĩ Tony DelGenio của viện nghiên cứu Goddard ở NewYork. "Sẽ thú vị hơn khi tìm ra những đám mây và hồ tạm thời có hình thành hay không trong những năm tới."

Titan và những biến đổi trên bề mặt của nó sẽ tiếp tục là mục tiêu chính của việc nghiên cứu xuyên suốt nhiệm vụ Equinox của Cassini.

Bản đồ Titan và những bức ảnh về hồ được tải tại http://ciclops.org, http://saturn.jpl.nasa.gov và http://www.nasa.gov/cassini


30/01/2009
(Theo Sciencedaily.com)

http://www.sciencedaily.com/releases/2009/01/090129182514.htm

Anh Minh - PAC.News


 

 

Một loại động cơ mới mà có thể giúp cơ quan vũ trụ Mỹ (NASA) đưa các nhà du hành trở lại bề mặt Mặt Trăng một cách an toàn vừa được hoàn thành một cách thành công trong đợt thử nghiệm lần thứ 3. Mục tiêu của những cuộc kiểm tra này là để giảm thiểu nguy cơ cũng như nâng cao công nghẹ cho một động cơ tên lửa đẩy chắc chắn mà có thể cho phép một cuộc đổ bộ lên Mặt Trăng tiếp theo.

 

Những cuộc kiểm tra này được thực hiện bởi Pratt & Whitney Rocketdyne tại West Palm Beach, Fla., giúp thu thập dữ liệu về đông cơ này mà có thể đóng vai trò quan trọng trong bước khám phá Mặt Trăng tiếp theo. Hầu hết các tên lửa đều làm cho tàu vũ trụ bay nhanh hơn. Mục tiêu của một động cơ tiếp đất lên Mặt Trăng là làm chậm tàu vì thế các nhà du hành có thể hạ cánh an toàn.

 

Động cơ Common Estensible Cryogenic (CECE) là một động cơ có khả năng giảm sức ép từ 100% xuống còn 10% - cho phép tàu vũ trụ hạ cánh nhẹ nhàng xuống Mặt Trăng. Động cơ nặng 13,800 pound này sử dụng nhiên liệu là oxy và hydro hóa lỏng.

 

Trong cuộc kiểm tra này, động cơ đã được thành công hạ từ 104% xuống 8%, một kỉ lục cho một động cơ loại này. Một động cơ cryogenic được cần để mang nhiều hàng hóa hơn lên bề mặt Mặt Trăng.

 

"Chuỗi kiểm tra đầu tiên trong năm 2006 là một thử thách nhưng đã chứng tỏ được tiềm năng của tên lửa", theo lời Tony Kim, quản lí dự án Deep Throttling Engine tại trung tâm không gian của NASA ở Huntsville, Ala. "Cuộc kiểm tra trong năm 2007 đã cung cấp một cuộc rà soát kĩ càng những đặc tính của đông cơ. Lần này chúng tôi tích cực giải quyết và tìm giải pháp cho những khó khăn đang gặp phải".

 

Nhóm nghiêm cứu đã cẩn thận đánh giá kết quả kiểm tra cho thấy rằng sự dao động áp suất trong động tại những điểm van thấp gọi là "chugging". Bản thân chugging có thể không thực sự là một vấn đề cho động cơ, nhưng những sự dao động này có thể dẫn đến nguy cơ với cấu trúc tên lửa và gây ra những vấn đề cho phi hành đoàn khi hạ cánh.

 

Những thay đổi trong hệ thống phun và nhiên liụe đã thành công trong việc  loại bỏ "chugging" bằng việc kiểm soát lượng oxy và hidro lỏng đến buồng cháy. Hình dạng động cơ mới nhất kết hợp với một hệ thống bơm nhiên liệu mới. Hệ thống này quản lí áp suất, nhiệt độ và dòng nhiên liệu một cách kĩ càng.

 

Động cơ CECE được dựa trên cơ sở của động cơ RL10. Kinh nghiệm trong chuyến bay đầu tiên cùng với dữ liệu này sẽ cho phép các kĩ sư phát triển những mẫu mô phỏng mà có thể kiểm tra sự hiệu quả của động cơ.

 

16/01/2009

(Theo Sciencedaily.com)

http://www.sciencedaily.com/releases/2009/01/090114142824.htm

 

Anh Minh - PAC.News

Ngày 6/12/2003, dưới mái trường THPT Chuyên Quảng Bình, nơi tập hợp những người con ưu tú của quê hương Mẹ Suốt, một CLB Thiên văn của học sinh đã được thành lập: CLB Thiên văn Chuyên Quảng Bình. Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập sẽ được tổ chức tại trường vào ngày 12/12/2008.


Với mục tiêu tạo nên 1 sân chơi mới cho các bạn học sinh, sinh viên, là nơi gặp gỡ, giao lưu của những người yêu thích thiên văn ở Quảng Bình, CLB đã thu hút đông đảo sự quan tâm của các bạn học sinh, sinh viên, giáo viên và các bậc phụ huynh ở khắp nơi trong tỉnh và các địa phương khác.

 



Tham gia CLB để cùng học hỏi, trao đỏi kiến thức, tài liệu, kinh nghiệm trong lĩnh vực thiên văn, cùng khám phá những điều bí ẩn và mới lạ từ bầu trời, hay cùng chế tạo những chiếc kính thiên văn đơn giản, CLB thực sự đã là một nơi lý tưởng cho những ai yêu thích khoa học, yêu thích bộ môn vật lý - thiên văn tại Trường THPT Chuyên QB.


5 năm – một quãng thời gian không phải là dài, nhưng nó đặc biệt có ý nghĩa đối với một CLB, mà đặc biệt là một CLB Thiên văn. Có thể nói rằng 5 năm hoạt động của 1 CLB Thiên văn thì CLB đó được xem như là “kỳ cựu” của “dân” Thiên văn Việt Nam.



Thành lập một CLB đã khó, duy trì hoạt động và phát triển CLB còn khó gấp nhiều lần. CLB Thiên văn chuyên Quảng Bình tròn 5 tuổi, đó là một điều thật đáng tự hào. Một điều khiến nhiều người trong “nghề” phải khâm phục, là một CLB của học sinh, sinh ra trên mảnh đất khó, mà vẫn tồn tại và phát triển mạnh, chứng tỏ ở đó có những con người thực sự tâm huyết và đầy lòng nhiệt tình.


Sự phát triển của CLB cũng là một tín hiệu mừng cho nền thiên văn non trẻ của Việt Nam, cho thấy sức hút mãnh liệt từ bộ môn "tuy cũ mà mới" này đối với HS - SV và các bạn trẻ, đòi hỏi phải có sự quan tâm hơn nữa của nhà trường, các cấp lãnh đạo đối với bộ môn lý thú này.


5 năm đã trôi qua, chặng đường sắp tới còn dài, Xin chúc CLB Thiên văn Chuyên Quảng Bình luôn vững tin và phát triển, sánh vai với các CLB thiên văn khắp nơi trong cả nước, góp một phần nhỏ cho sự phát triển của nước nhà.

 


PH.