Edward Emerson Barnard sinh ra tại Nashville, bang Tennessee, phía nam Hoa Kỳ. Cha ông qua đời trước khi ông sinh ra, Barnard lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn và phải đi làm từ khi mới 9 tuổi, không có nhiều điều kiện học tập. Ngoài công việc chính là thợ nhiếp ảnh, Barnard còn nghiên cứu thiên văn một cách nghiệp dư. Trong giai đoạn đầu những năm 1880, Barnard đã tìm ra 8 sao chổi và trở nên rất nổi tiếng trong giới thiên văn nghiệp dư ở Nashville. Số tiền được thưởng vì những phát hiện của mình đủ để Barnard xây được 1 ngôi nhà cho ông và người vợ trẻ. Năm 1887, ông tham gia công tác quản lý tại đài thiên văn Lick.


Edward Emerson Barnard (16/12/1857 – 06/02/1923)

Năm 1892, Barnard phát hiện ra sự phát khí của của các tàn dư nova, từ đó kết luận rằng chúng thực chất là các vụ nổ sao. Cũng trong năm đó, ông phát hiện ra Amathea, vệ tinh thứ 5 của Sao Mộc. Đây thật sự là một phát hiện ấn tượng vì gần 300 năm sau phát hiện năm 1610 của Galileo, các nhà thiên văn mới tiếp tục phát hiện thêm vệ tinh của hành tinh này. Amalthea cũng là vệ tinh tự nhiên cuối cùng được tìm ra bằng các quan sát trực tiếp (không phải dựa trên việc phân tích các ảnh chụp từ các kính thiên văn hoặc các tàu vũ trụ).

Năm 1895, Barnard được bổ nhiệm làm giáo sư thiên văn tại đại học Chicago. Năm 1916, ông phát hiện ra ngôi sao có chuyển động riêng nhanh nhất trên thiên cầu (1). Barnard đã quan sát và vẽ lại rất chi tiết bản đồ Sao Hoả, từ đó bác bỏ các giả thiết về sự tồn tại kênh đào trên hành tinh đỏ. Barnard tìm ra phương pháp chụp ảnh trường rộng để khảo sát cấu trúc của Ngân Hà. Cùng với Max Wolf, ông khám phá ra “vùng tối” của Ngân Hà đối với người quan sát từ Trái Đất thực chất là do các đám khí bụi che ánh sáng từ những ngôi sao phía sau. Ông còn là tác giả của danh mục tinh vân tối (dark nebula) (2)

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hoả, một tiểu hành tinh (asteroid 819 Barnardiana), một khu vực trên vệ tinh Ganymede (Barnard Regio), một ngôi sao (Barnard’s star).

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2008. December 16 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/12/16_12.htm
[2]Wikipedia, 12/2008. Edward Emerson Barnard, http://en.wikipedia.org/wiki/Edward_Emerson_Barnard
[3]JST, 2008-12-08. The Bruce Medalists, Edward Emerson Barnard, http://www.phys-astro.sonoma.edu/BruceMedalists/Barnard/index.html

Ghi chú

(1) Banard’s star, sao lùn đỏ thuộc chòm Ophiuchus, cách Trái Đất khoảng 6 năm ánh sáng. Vận tốc riêng trên thiên cầu của Banard’s star khoảng 10.2 arcseconds/năm.

(2) Tinh vân tối (dark nebula) là các đám khí và bụi dày đặc, che kín ánh sáng phát ra từ tinh vân hoặc các ngôi sao phía sau. Danh mục của Barnard bao gồm 366 tinh vân tối (Barnard-1 đến Barnard-366).

Trần Tuấn Tú
Theo TTVNOL

Ngày 06/01/1949, chiếc đồng hồ nguyên tử đầu tiên của Thế Giới được đưa vào vận hành tại Nha Tiêu chuẩn Quốc gia Hoa Kỳ - National Bureau of Standards (nay là Viện Tiêu chuẩn và Kỹ thuật Quốc gia Hoa Kỳ - National Institute of Standards and Technology). Về mặt lý thuyết, các đồng hồ nguyên tử hoạt động dựa trên quá trình đo các đặc tính từ trường của hạt nhân nguyên tử bằng phương pháp cộng hưởng (resonance method for recording the magnetic properties of atomic nuclei) của Isidor Isaac Rabi (giải Nobel Vật Lý năm 1944).


Ảnh: chiếc đồng hồ nguyên tử đầu tiên của Thế Giới (NIST – 1949)

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 07/01/1610, Galileo đã phát hiện ra 3 trong số 4 vệ tinh thuộc nhóm vệ tinh Galileo của Sao Mộc: Io, Europa và Callisto. Sau đó một ngày, ông phát hiện ra vệ tinh còn lại: Ganymede [1, trang 8]

« Khi năm mới bắt đầu, Galilê khám phá ra một điều làm cả thế giới kinh ngạc. Vào ngày 7 tháng một năm 1610, ông hướng kính viễn vọng lên Sao Mộc. Nó lớn thành một quả cầu nhỏ. (Những ngôi sao không lớn được như thế. Ngay cả với kính viễn vọng hiện đại nhất, chúng vẫn chỉ là các điểm sáng mà thôi). Hình ảnh gây ấn tượng tức khắc cho Galilê là ba ngôi sao nhỏ ông nhìn thấy bên cạnh Sao Mộc (đêm sau, ông nhìn thấy bốn ngôi sao). Ông quan sát chúng hết đêm này đến đêm khác, và chẳng bao lâu rõ ràng thấy chúng chuyển động xung quanh Sao Mộc.


Ảnh: Bài viết của Galileo trên báo Sidereus Nuncius (Tín sứ của các ngôi sao) tháng 3 năm 1610 thông báo về việc phát hiện ra các thiên thể chuyển động xung quanh Sao Mộc (Bản dịch tiếng Anh của bài viết trên có thể tham khảo tại tài liệu [2])

Có bốn mặt trăng nhỏ bé chuyển động xung quanh Sao Mộc giống như Mặt Trăng của chúng ta chuyển động xung quanh Trái Đất.

Đây là dẫn chứng cho biết Arixtôt và Ptôlêmê đều sai rõ ràng. Họ đã nói rằng mọi vật trên trời chuyển động xung quanh Trái Đất cơ mà. Không kể đến ai có thể nói gì về Mặt Trăng, Mặt Trời và các hành tinh, chỉ riêng bốn thiên thể nhỏ bé này cũng chuyển động xung quanh Sao Mộc đấy !

Galilê gọi chúng là Sidera Medicea (« Những ngôi sao Mêđixi theo tên của Côximô Mêđixi II, đại công tước của Tôxcan, là người Galilê đợi sẽ giao cho ông một việc làm (sau đó, Galilê nhận được việc làm). Tuy vậy, các thế hệ sau đã quyết định rằng niềm vinh dự đó đặt vào nhầm người. Khi Kêplơ nghe về những vật thể mới ấy, ông gọi chúng là các vệ tinh, cho nên bốn Mặt Trăng của Sao Mộc khi được gộp thành một nhóm thì được gọi là nhóm vệ tinh Galilê.

Từ vệ tinh hiện giờ được dùng để chỉ bất kỳ thiên thể nào – hoặc thậm chí cả vật thể do con người làm ra – chuyển động xung quanh một hành tinh. Các vệ tinh chuyển động theo một hành tinh, nói một cách khác là « hộ tống » nó, trong khi hành tinh chuyển động xung quanh Mặt Trời. Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất. Các vệ tinh cũng được gọi là « các mặt trăng », nhưng thường gọi là « các vệ tinh » để cho rõ ràng hơn, còn chữ « Mặt Trăng » là để dành cho vệ tinh riêng của Trái Đất.

Các vệ tinh Galilê đều là những thiên thể rất lớn. Hai vệ tinh ở gần Sao Mộc hơn thì hầu như lớn bằng Mặt Trăng của chúng ta (vốn có đường kính 3450 km). Hai vệ tinh ở ngoài thật sự lớn hơn Mặt Trăng của chúng ta, thậm chí còn lớn hơn cả hành tinh Sao Thủy nữa.

Các vệ tinh Galilê đã được đặt tên theo những nhân vật trong thần thoại Hy Lạp vốn có liên hệ chặt chẽ với Jupite (tức Zơt, đều là tên của Sao Mộc theo tiếng La tinh hoặc Hy Lạp). Người làm việc này là nhà thiên văn Đức Ximon Mariut, người khám phá ra các vệ tinh đó chỉ một ngày (!) sau Galilê. Vệ tinh gần Sao Mộc nhất được gọi là Iô, rồi tới Ơrôpa, Ganimet (vệ tinh lớn nhất) và Calixtô. Đôi khi, chúng được gọi tên theo số: Jupite I, Jupite II, Jupite III và Jupite IV. » [3, trang 82, 83]

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/

[2] Calvin J. Hamilton, 1995-2005 . Views of the Solar System,
http://www.solarviews.com/cap/jup/manuscr1.htm

http://www.solarviews.com/cap/jup/manuscr2.htm

[3] Isaac Asimov, 1966. Hệ Mặt Trời, người dịch Đắc Lê, NXB Khoa Học và Kỹ Thuật, 1980

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 9/1/1839, nhà thiên văn học người Scotland Thomas James Henderson (28/12/1798 – 23/11/1844) công bố kết quả đo đạc tiến hành bằng phương pháp thị sai (parallax) đối với sao Alpha Centauri.[1] Mặc dù những kết quả đo khoảng cách đã có được trong khoảng những năm 1832, 1833, tuy nhiên do sự không chính xác của dụng cụ đo, Henderson chỉ công bố kết quả vào 1839 (sau khi Friedrich Wilhelm Bessel công bố khoảng cách đo bằng thị sai đối với sao 61 Cygni vào năm 1838).[2]

Kết quả đo khoảng cách từ Trái Đất đến sao Alpha Centauri của Henderson là 3.25 năm ánh sáng, nhỏ hơn kích thước thật ngày nay đo được 33.7%. Kết quả đo khoảng cách của Bessel đối với sao 61 Cygni (10.4 năm ánh sáng) chính xác hơn, chỉ nhỏ hơn kết quả đo được ngày nay khoảng 9.6%. Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu ngày nay đều công nhận Henderson là nhà thiên văn đầu tiên tiến hành đo khoảng cách các vì sao bằng phương pháp thị sai.

Vốn xuất thân là một luật sư, tuy nhiên, niềm yêu thích đối với thiên văn và toán đã khiến Henderson đến làm việc tại đài quan sát của chính phủ Anh tại mũi Hảo Vọng, Nam Phi. Sau đó 2 năm, ông quay về Edinburgh và trở thành nhà thiên văn hoàng gia đầu tiên của Scotland. Tác phẩm lớn nhất của Henderson là bản danh mục sao trong đó chứa vị trí của hơn 60000 ngôi sao. [1]


Ảnh: Bia tưởng niệm Henderson

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]. [b]Wikipedia, 2006. Thomas James Henderson, http://en.wikipedia.org/wiki/Thomas_James_Henderson

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày sinh của nhà vật lý thiên văn Robert Woodrow Wilson (10/01/1936) [1, trang 11]. Năm 1965, Wilson và Arno Allan Penzias đã phát hiện ra bức xạ phông vũ trụ. Năm 1978, hai nhà vật lý thiên văn đã được trao nửa giải Nobel Vật lý vì phát hiện này.


Ảnh: Nhà vật lý thiên văn Wilson

Sự phát hiện tình cờ ra bức xạ phông Vũ trụ bởi hai nhà vật lý thiên văn vô tuyến Mỹ, Pendiat (Penzias) và Uynxơn (Wilson) năm 1965 là một yếu tố quyết định cho thuyết Vụ nổ lớn. Hồi đó hai ông đang thử máy thu tín hiệu trên bước sóng 3 xentimet (sóng vô tuyến). Dụng cụ gồm có một máy thu tín hiệu rất nhậy và một ăngten dài hình kèn, dùng để liên lạc với các vệ tinh nhân tạo. Họ thu được vào máy một tín hiệu rất yếu, và thoạt đầu tưởng là bức xạ vô tuyến này là nhiễu xạ phát ra bởi những thiết bị nhân tạo như rađa. Sau khi lau chùi ăngten cẩn thận (vì chim làm tổ trong ăngten cũng có thể phát ra nhiễu xạ !) và kiểm tra tỉ mỉ, họ phải khẳng định là bức xạ phát ra đồng đều từ tứ phía trong không trung. Nguồn bức xạ phải ở ngoài Trái đất, phát từ Vũ trụ. Trước đó, năm 1948, Gamôp (Gamov), một nhà vật lý học người Mỹ đã có lí thuyết cho rằng vết tích của bức xạ Vũ trụ nguyên thủy lúc đầu nóng ít nhất hàng triệu tỉ độ, ngày càng nguội dần vì Vũ trụ giãn nở. Ông tiên đoán rằng nhiệt độ hiện nay của bức xạ chỉ còn khoảng 10 độ Kelvin, độ tuyệt đối K trong thang Kenvin (Kelvin), tức là 263 độ dưới không độ (-263 độ C) trong thang bách phân Xenxiusơ (Celsius). Ta dùng thông thường thang Xenxiusơ để đo nhiệt độ gọi là độ C. Trong ngành vật lí thiên văn, thang độ tuyệt đối Kenvin thường được dùng và viết tắt là K. Nhiệt độ của bức xạ thu được trong máy của Pendiat và Uynxơn khoảng 3 K. Hai nhà vật lí thiên văn nhận thức rằng họ đã tìm thấy một kết quả quan sát vô cùng quan trọng, vì chính nó là vết tích của Vụ nổ nguyên thủy tiên đoán bởi Gamốp và tạo ra Vũ trụ cách đây khoảng 15 tỉ năm. Nhờ sự quan sát trên nhiều bước sóng, từ bước sóng xentimet tới bước sóng milimet, nhiệt độ của bức xạ Vũ trụ hiện nay đo được rất chính xác là 2,735 K. Tuy nhà lí thuyết Gamôp tiên đoán nhiệt độ không hoàn toàn chính xác, nhưng cảm nhận trực giác của ông đã hướng dẫn tới sự phát hiện ra bức xạ phông Vũ trụ. Bức xạ này đẳng hướng phát ra đồng đều từ tứ phía và có đặc tính của một bức xạ nhiệt, cũng được gọi là bức xạ vật đen. Vật đen là một khái niệm dùng trong ngành vật lí để chỉ một vật phát xạ khi được hun nóng như một cục than hồng. Hành tinh cũng như Trái đất hấp thụ bức xạ của Mặt trời nên cũng phát ra bức xạ nhiệt [2, trang 28,29]


Tài liệu tham khảo:

[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]. Nguyễn Quang Riệu. Vũ trụ phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại, NXB Giáo Dục, 1995.

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 11/01 năm 1787, William Herschel đã khám phá ra hai vệ tinh của Sao Thiên Vương: Titania và Oberon [1, trang 12]

+ Titania là vệ tinh lớn nhất của Sao Thiên Vương với đường kính xích đạo 788.9 km, khối lượng = 5.84x10^-4 khối lượng Trái Đất. Titania chuyển động trên một quỹ đạo cách Sao Thiên Vương trung bình 435840 km. [2]


Ảnh: Vệ tinh Titania, Photo Credit: NASA, Voyager 2, Copyright Calvin J. Hamilton

+ Oberon có đường kính xích đạo 761.4 km, khối lượng = 5.07x10^-4 khối lượng Trái Đất. Oberon chuyển động trên một quỹ đạo cách Sao Thiên Vương trung bình 582600 km. [3]


Ảnh: Vệ tinh Oberon, Photo Credit: NASA, Voyager 2, Copyright Calvin J. Hamilton

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]. Calvin J. Hamilton, 1997-2001. Titania, Uranus III, http://www.solarviews.com/eng/titania.htm
[3]. Calvin J. Hamilton, 1997-2001. Onberon, Uranus IV, http://www.solarviews.com/eng/oberon.htm

Hero_Zeratul
ttvnol.com

+ Ngày sinh nhà khoa học người Nga Сергей Павлович Королёв (Sergei Pavlovich Korolev) [1, trang 13] (12/01/1907 – 14/01/1966). Korolev là Tổng công trình sư của Liên Xô trong cuộc chạy đua lên không gian với người Mỹ trong những năm 50 và 60 của thế kỷ XX [2]. Tên tuổi của ông gắn liền với sự thành công của hàng loạt chương trình không gian như: Sputnik, Vostok, Voskhod, Soyuz, ...


Ảnh: Сергей Павлович Королёв (1907 – 1966)

+ 12/01/1820: Ngày thành lập Hội Thiên văn Anh (Astronomical Society), tiền thân của Hội Thiên văn Hoàng gia Anh – Royal Astronomical Society (1831). Những người sáng lập đầu tiên của Hội Thiên văn Anh gồm có: John Herschel, Charles Babbage, Henry Colebrooke, Thomas Colby, Daniel Moore, Olinthus Gregory, William Pearson, Francis Baily, ... Chủ tịch đầu tiên của hội Thiên văn Anh là William Herchel [3].

Tài liệu tham khảo:
[1]. [1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]. Wikipedia, 01/2007. Sergey Korolyov[i], http://en.wikipedia.org/wiki/Sergei_Korolev
[3]. JOC/EFR, 08/2004. [i]The Royal Astronomical Society (London)
http://www-history.mcs.st-andrews.ac.uk/Societies/Astronomical.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com

+ Ngày sinh Shannon Matilda Well Lucid (14/01/1943), nhà sinh hóa học, phi công vũ trụ Hoa Kỳ [1]. Cho tới thời điểm hiện tại, Lucid đang giữ kỷ lục là người phụ nữ có thời gian sống và làm việc ngoài không gian lâu nhất. Tổng cộng, bà đã thực hiện 5 chuyến bay lên không gian bằng các tàu con thoi: Discovery (1985), Atlantis (1989, 1991và 1996), Columbia (1993). Năm 1996, bà đã sống và làm việc tổng cộng ngoài không gian 188 ngày, trong đó có 179 ngày trong trạm vũ trụ MIR [2]. Trên trạm MIR, bà chủ yếu thực hiện các thí nghiệm, nghiên cứu về sự tác dụng của quá trình làm việc lâu dài ngoài không gian đối với cơ thể con người. [1]

 


Ảnh: Shannon Matilda Well Lucid

 

+ Ngày mất tổng công trình sư người Nga Сергей Павлович Королёв (Sergei Pavlovich Korolev) (12/01/1907 – 14/01/1966) [1]

+ Ngày mất nhà thiên văn học người Anh Edmond Halley (08/11/1656 – 14/01/1742) [1]

+ Ngày 14/01/2005, thiết bị thăm dò khí quyển Huygens đã xâm nhập và đổ bộ xuống vệ tinh Titan của Sao Thổ. Toàn bộ quá trình đổ bộ và đo đạc diễn ra trong vòng 2.5h. Tuy nhiên, sau khi tiếp đất, Huygens vẫn hoạt động thêm được 90 phút nữa. [3]

 


Ảnh: Thiết bị thăm dò khí quyển Huygens


Tài liệu tham khảo:

[1]. Today in Science History, 1999 – 2007. JANUARY 14 - BIRTHS, DEATHS, EVENTS, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_13.htm
[2] Wikipedia, 1/2007. Shannon Lucid, http://en.wikipedia.org/wiki/Shannon_Lucid
[3] European Space Agency, 01/2005. Cassini-Huygens
Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày mất nhà thiên văn người Pháp Henri Alexandre Deslandres (24/7/1853 – 15/1/1948)[1]. Ông là một trong những người đi tiên phong trong việc áp dụng nghiên cứu, phân tích quang phổ trong nghiên cứu thiên văn.

Năm 1868, dựa trên những kinh nghiệm quan sát, nghiên cứu Mặt Trời, nhà thiên văn Pierre Janssen đã có một báo cáo với viện Hàn lâm Khoa học, nhấn mạnh vai trò của Vật lý thiên văn: " ce n''est plus la géométrie et la mécanique qui dominent désormais en astronomie mais la physique et la chimie " (tạm dịch: Hình học và Cơ học không còn giữ vai trò chính trong Thiên văn học, thay vào đó là Vật lý và Hóa học). Những đề xuất của Janssen đã không đươc giám đốc đài thiên văn Paris lúc bấy giờ là Le Verrier chấp nhận. Tuy nhiên, chính phủ Pháp đã quyết định xây dựng thêm 1 đài thiên văn ở Meudon, ngoại ô Paris, nơi Janssen và Deslandres tiến hành những nghiên cứu đầu tiên về Vật lý thiên văn. Năm 1889, Amédée Mouchez thay Le Verrier làm giám đốc đài thiên văn Paris. Mouchez quyết định đẩy mạnh Vật lý thiên văn và mời Deslandres về đài thiên văn Paris làm việc.[2] Năm 1894, Deslandres phát minh ra máy ghi quang phổ Mặt Trời (spectroheliograph) (Trước đó 1 năm, nhà thiên văn Hoa Kỳ George E. Hale cũng đã phát minh ra spectroheliograph, tuy nhiên, công việc của Hale và Deslandres là độc lập với nhau).[3]

Deslandres từng giữ nhiệm vụ giám đốc đài thiên văn Meudon, giám đốc đài thiên văn Paris. Tên của ông được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng [2]

 


Ảnh: Henri Alexandre Deslandres (24/7/1853 – 15/1/1948)

Tài liệu tham khảo:

[1]Today in Science History, 1999 - 2007. JANUARY 15 - BIRTHS, DEATHS, EVENTShttp://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_15.htm
[2]Wikipedia, 22/11/2006. Henri Deslandres, http://fr.wikipedia.org/wiki/Henri_Deslandres
[3] JST, 2006-02-25. The Bruce Medalists, Henri Alexandre Deslandres, http://www.phys-astro.sonoma.edu/BruceMedalists/Deslandres/index.html

 

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Luna 21 trở theo xe tự hành Lunakhod 2 [1]. Nhiệm vụ của các xe tự hành kiểu Lunakhod (1 và 2) là hoạt động lâu dài trên Mặt Trăng theo sự điều khiển phát đi từ Trái Đất, thu thập, phân tích các thông số về địa hình, đất đai, môi trường, ... [2]

 


Ảnh: Các xe tự hành Lunakhod

 

Lunakhod 2 có khối lượng 756kg, di chuyển trên hệ thống 8 bánh xe. Tốc độ tối đa Lunakhod có thể đạt được là 2km/h. Quá trình điều khiển được thực hiện bởi một nhóm 5 người trên Trái Đất. Nguồn năng lượng chính của Lunakhod là các tấm pin mặt trời triển khai trên nắp xe, ngoài ra, trong xe cũng có hệ thống pin riêng. Nắp xe có thể quay các góc từ 0 đến 180 độ, bảo đảm cho xe luôn nhận được tối đa nguồn năng lượng từ Mặt Trời. Tổng cộng Lunakhod2 hoạt động trong vòng 4 tháng, di chuyển 37 km.[2]

 


Ảnh: Bề mặt Mặt Trăng chụp từ tàu Luna 21 (có thể thấy vết bánh xe của Lunakhod 2)

 

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. January 16 - Births, Deaths, Eventshttp://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_16.htm
[2] . Phil de Hit online.Le laboratoire mobile LUNAKHOD (URSS, 1970-1973), http://phil.ae.free.fr/astro/espace/lunexpl3.html
Hero_Zeratul
ttvnol.com