Ông là giám đốc đầu tiên của đài thiên văn Harvard.


Ảnh: William Cranch Bond (09/09/1789 – 29/01/1859) [1].

 

William Cranch Bond ban đầu là một nhà thiên văn nghiệp dư với công việc chính là thợ chế tạo đồng hồ. Năm 1815, Bond được đại học Harvard cử đi châu Âu thăm quan, học tập kinh nghiệm xây dựng đài thiên văn. Năm 1839, đài thiên văn Harvard khánh thành và William Cranch Bond giữ cương vị giám đốc. Năm 1848, cùng với con trai là George Phillips Bond, ông phát hiện ra vệ tinh thứ 8 của Sao Thổ – Hyperion (độc lập với cha con ông, nhà thiên William Lassell cũng đã phát hiện ra vệ tinh này cũng trong năm 1848) [2]. Cha con ông là những nhà thiên văn Hoa Kỳ đầu tiên áp dụng kỹ thuật chụp ảnh vào việc quan sát thiên văn [2].

Tên của cha con ông được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một vùng trên bề mặt vệ tinh Hyperion và tên của tiểu hành tinh số 767 (Bondia)[2]

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 - 2007. January 29 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/11/1_29.htm
[2]. Hartmut Frommert, Christine Kronberg, 09/2006. William Cranch Bond (September 9, 1789 - January 29, 1859), http://www.seds.org/messier/xtra/Bios/wcbond.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 31/01/1958, Hoa Kỳ chính thức bước vào kỷ nguyên vũ trụ bằng việc phóng thành công vệ tinh Explorer 1[1]. Explorer 1 có dạng hình trụ, dài 2.03 m, đường kính 0.152 m, khối lượng 13.97 kg, được đưa lên không gian bởi tên lửa đẩy Jupiter – C. Explorer 1 đã chứng minh sự tồn tại vành đai các hạt mang năng lượng cao bao quanh Trái Đất đã được dự đoán trước đó bởi tiến sĩ James A. Van Allen (vành đai này được đặt tên là vành đai Van Allen)[2]


Ảnh: Vệ tinh Explorer 1
Ngày 31/01/1961, NASA đã đưa loài linh trưởng đầu tiên lên vũ trụ: chú tinh tinh 4 tuổi tên là Ham [1]. Đây là một trong những thử nghiệm cuối cùng nhằm đưa người lên vũ trụ của Hoa Kỳ. Chuyến bay thành công, Ham đã chịu trạng thái không trọng lượng trong khoảng 7 phút, trở về Trái Đất an toàn [3]. Ngày 5/5/1961, phi công vũ trụ Alan B. Shepard đã trở thành người Hoa Kỳ đầu tiên bay vào vũ trụ [1]

 


Ảnh: Ham sau chuyến bay thành công

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 - 2007. January 31 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_31.htm
[2]. Explorer 1, 01/2005. Ed Grayzeck, http://nssdc.gsfc.nasa.gov/database/MasterCatalog?sc=1958-001A
[3]. Kristine Sigsbee, 06/2001. Ham, http://ham.space.umn.edu/kris/ham.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com

STS-107 là chuyến bay lên không gian thứ 28 của tàu con thoi Columbia. Nhiệm vụ kéo dài trong 15 ngày 22 giờ với mục đích chính là tiến hành các thí nghiệm trong môi trường không trọng lượng. Phi hành đoàn STS-107 bao gồm 7 người:

+ Rick D. Husband : chỉ huy
+ William C. McCool : phi công
+ Michael P. Anderson : chuyên viên
+ Kalpana Chawla : chuyên viên
+ David M. Brown : chuyên viên
+ Laurel B. Clark : chuyên viên
+ Ilan Ramon : chuyên viên (người Isarel đầu tiên bay vào vũ trụ)

Những phút cuối cùng của tàu con thoi Columbia:
13h52 GMT: các thiết bị đo ở cánh trái, bộ phận phanh và bánh trái mất liên lạc
13h59 GMT: nhiệt độ và áp suất vượt ra khỏi tầm kiểm soát
14h00 GMT: Tàu Columbia bị vỡ vụn tại độ cao 63.176 km trên bầu trời Texas, 16 phút trước thời điểm hạ cánh trong kế hoạch. Toàn bộ phi hành đoàn hi sinh.

Nguyên nhân của tai nạn được kết luận là do một mảnh vỡ nhỏ của tên lửa đẩy đã phá hỏng một miếng cách nhiệt bên cánh trái tàu Columbia trong quá trình phóng. Khi con tàu xuyên quá lớp khí quyển để hạ cánh, không khí nóng đã tràn qua miếng cách nhiệt bị hỏng, phá hủy cấu trúc bên trong của cánh trái, dẫn đến việc toàn bộ tàu con thoi bị mất điều khiển và bị vỡ vụn.


Ảnh: Tai nạn tàu Columbia


Ảnh: Phi hành đoàn tàu Columbia gặp nạn


Tài liệu tham khảo:
[1]Vic Stathopoulos, 11/2006, Space Shuttle Columbia Disaster, http://www.aerospaceguide.net/spaceshuttle/columbia_disaster.html
[2]. Wikipedia, 01/2010 Space Shuttle Challenger disaster, , http://en.wikipedia.org/wiki/Space_Shuttle_Columbia_disaster

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 03/02/1966, tàu đổ bộ Luna 9 của Liên Xô đã hạ cánh thành công xuống Mặt Trăng [1]. Đây là thiết bị thám hiểm đầu tiên của con người hạ cánh «mềm» (soft landing) thành công xuống một thiên thể khác. Luna 9 đã chứng minh được khả năng hạ cánh xuống Mặt Trăng của con người cũng như các thiết bị từ Trái Đất. Luna 9 hoạt động trên Mặt Trăng cho đến khi hết năng lượng vào ngày 6/2


Ảnh: Tàu đổ bộ Luna 9

Ngày 03/02/1966, Hoa Kỳ phóng vệ tinh thời tiết đầu tiên ESSA-1 ((Environmental Science Services Administration)[1]. ESSA -1 có dạng hình trụ đa giác đều 18 mặt, đường kính 42 inch, chiều cao 22 inch và nặng 305 bảng.


Ảnh: Vệ tinh thời tiết ESSA - 1

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 3 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_20.htm

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Apollo-14 là chuyến bay có người lái thứ 8 trong chương trình Apollo của NASA (là chuyến bay thứ 4 có nhiệm vụ đổ bộ xuống Mặt Trăng). Phi hành đoàn Apollo-14 bao gồm 3 người:

+ Alan B. Shepard, Jr : chỉ huy.
+ Stuart A. Roosa : phi công module điều khiển (command module). Module điều khiển của Apollo-14 có tên gọi là Kitty Hawk.
+ Edgar D. Mitchell : phi công module Mặt Trăng (lunar module). Module Mặt Trăng của Apollo-14 có tên gọi là Antares.


Ảnh: Phù hiệu Apollo-14


Ảnh: Phi hành đoàn Apollo-14

Được phóng lên không gian ngày 31/01/1971, Apollo-14 mất gần 5 ngày để bay đến Mặt Trăng. Shepard và Mitchell đã sử dụng module Mặt Trăng thực hiện quá trình đổ bộ, trong khi đó Roosa vẫn tiếp tục lái module điều khiển bay xung quanh vệ tinh này. 9 giờ 18 phút ngày 05/02/1971, module Mặt Trăng đổ bộ thành công xuống đồi Fra Mauro (Fra Mauro formation) tại bề mặt nhìn thấy của Mặt Trăng. Với thành công này, Shepard và Mitchell trở thành người thứ 5 và thứ 6 đặt chân lên Mặt Trăng.

Shepard và Roosa đã 2 lần thực hiện các hoạt động ngoài phi thuyền (EVA) với thời gian tổng cộng là 9 tiếng 22 phút. Họ đã thu thập được khoảng 42.28 kg đất đá và tiến hành một số thí nghiệm trên bề mặt Mặt Trăng. Trong thời gian này, Roosa cũng đã tiến hành chụp ảnh Mặt Trăng từ trên quỹ đạo. Trước khi rời khỏi Mặt Trăng, Shepard đã thực hiện tổng cộng 6 lần đánh golf, trong đó có 1 cú đánh thành công, bóng bay vào 1 crater cách đó 10 mét, Mitchell cũng ném 1 cây lao "tự chế". Roosar cũng đã mang theo trong chuyến bay này hàng trăm hạt giống cây trồng. Sau đó, những hạt cây đã được gieo và trồng trên nhiều vùng của nước Mỹ, cũng như ở một số nước khác (Nhật, Bản, Braxin, …) với mục đích quảng bá hàng không vũ trụ ra cộng đồng. Chúng được gọi là các “cây mặt trăng” (moon tree).

18h48 (UTC) ngày 06/02, Shephard và Mitchell sử dụng module Mặt Trăng bay lên kết nối với module điều khiển. Ngày 09/02, phi hành đoàn đã hạ cánh xuống Thái Bình Dương, kết thúc thành công nhiệm vụ Apollo-14.


Ảnh: Shepard và cú đánh golf thứ 3 trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 – 2010. FEBRUARY 5 - BIRTHS, DEATHS, EVENTS, http://www.todayinsci.com/2/2_05.htm
[2]. Wikipedia, 11/2009. Apollo 14, http://en.wikipedia.org/wiki/Apollo_14

Trần Tuấn Tú
Vietastro.org

Ngày sinh kỹ sư không gian, phi công vũ trụ Liên Xô Konstantin Petrovich Feoktistov (07/02/1926 - 21/11/2009)

Konstaintin Petrovich Feoktistov sinh ra tại thành phố Voronezh, tây nam nước Nga. Thế chiến thứ II nổ ra, Feoktistov tham gia chiến đấu chống quân phát xít Đức khi mới chỉ 16 tuổi. Trong một nhiệm vụ trinh sát, ông bị quân Đức bắt và đem bắn. Rất may là mặc dù viên đạn xuyên qua cằm và cổ nhưng đã không giết chết Feoktistov. Sau đó ông đã tìm về lại được với Hồng Quân.


Ảnh: Konstantin Petrovich Feoktistov (07/02/1926 - 21/11/2009)

Chiến tranh kết thúc, Feoktistov tiếp tục học và trở thành kỹ sư vào năm 1949, sau đó ông bảo vệ thành công luận án tiến sỹ Vật lý. Năm 1955, Feoktistov bắt đầu làm việc trong lĩnh vực hàng không vũ trụ. Ông đã tham gia vào các dự án Sputnik, Vostok, Voskhod và Soyuz dưới sự chỉ đạo của Sergey Korolyov. Ông cũng được huấn luyện thành một phi công vũ trụ và đã tham gia vào chuyến bay ngày 12/10/1964 trên tàu Voskhod-1 (chuyến bay đầu tiên của tàu vũ trụ có nhiêù người lái). Tàu Voskhod-1 đã bay tổng cộng 16 vòng quanh Trái Đất trong thời gian 1 ngày 17 phút.

Sau Voskhod-1, Feoktistov không thực hiện thêm chuyến bay vũ trụ nào nữa vì lý do sức khoẻ. Ông tiếp tục làm việc trong ngành hàng không vũ trụ, giữ vai trò lãnh đạo trong việc thiết kế các trạm không gian Salyut và Mir. Sau khi nghỉ hưu năm 1990, ông là giáo sư giảng dạy tại trường Kỹ thuật Bauman, Mat-xcơ-va.

Tên ông được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 – 2010. FEBRUARY 7 - BIRTHS, DEATHS, EVENTS, http://www.todayinsci.com/2/2_07.htm
[2]. Wikipedia, 01/2010. Konstantin Feoktistov, http://en.wikipedia.org/wiki/Konstantin_Petrovich_Feoktistov

-----

Ngày 07/02/1984, trong nhiệm vụ STS-41-B (tàu Challenger), hai phi công vũ trụ Hoa Kỳ Bruce McCandless II và Robert L. Stewart đã thử nghiệm thành công thiết bị di chuyển có điều khiển (Manned Maneuvering Unit, MMU). Đây là thiết bị phản lực gắn sau lưng cho phép con người có thể di chuyển ngoài không gian mà không cần dây nối với phi thuyền mẹ. McCandless đã trở thành người đầu tiên "bay tự do" ngoài không gian với khoảng cách xa nhất đối với tàu con thoi lên tới 98 mét (ông cũng là người đã tham gia vào quá trình thiết kế và chế tạo MMU).

Tuy nhiên, vì lý do an toàn nên MMU chỉ được sử dụng trong tổng cộng 3 nhiệm vụ với tàu con thoi năm 1984 (STS-41-B, STS-41-C, STS-51-A). Hiện nay, phiên bản nhỏ hơn của MMU là SAFER (Simplified Aid for EVA Rescue) được trang bị cho các nhà du hành như một thiết bị cứu trợ khi thực hiện các hoạt động ngoài không gian (có dây nối) trên trạm ISS.

Một số hình ảnh của McCandless và Stewart trong nhiệm vụ STS-41-B:





Ảnh: McCandless


Ảnh: Stewart

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 – 2010. FEBRUARY 7 - BIRTHS, DEATHS, EVENTS, http://www.todayinsci.com/2/2_07.htm
[2]. Wikipedia, 01/2010. Manned Maneuvering Unit, http://en.wikipedia.org/wiki/Manned_Maneuvering_Unit

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Skylab là trạm không gian đầu tiên và duy nhất tính đến thời điểm này do Hoa Kỳ độc lập chế tạo và sử dụng. Trạm có chiều dài 36.12 m, đường kính chỗ lớn nhất 6.58 m, thể tích không gian làm việc của phi hành đoàn : 361 mét khối, tổng khối lượng khi phóng là 76.295 tấn. Skylab chuyển động trên quỹ đạo mà điểm cao nhất cách mặt đất 439 km, điểm thấp nhất cách mặt đất 427 km. Trạm không gian bay 1 vòng quanh Trái Đất hết 93.4 phút. Để đưa phi hành đoàn lên làm việc tại Skylab, Hoa Kỳ sử dụng command/service module (CSM) của các tàu Apollo.

Skylab được phóng thành công lên quỹ đạo ngày 14/05/1973. Tổng cộng đã có 3 chuyến bay đưa các nhà du hành lên làm việc tại Skylab. Thành viên của mỗi chuyến bay bao gồm 3 người.

(Ký hiệu nhiệm vụ; phi hành đoàn; ngày phóng - ngày hạ cánh; thời gian làm việc trên trạm)

+ SL2, Pete Conrad, Paul Weitz và Joseph Kerwin; 25/05/1973 - 22/06/1973; 28.3 ngày

+ SL3, Alan Bean, Jack Lousma và Owen Garriott; 28/07/1973 – 25/09/1973; 59.46 ngày

+ SL4, Gerald Carr, William Pogue và Edward Gibson; 16/11/1973 – 08/02/1974; 84.04 ngày


Ảnh: Skylab 4 trên quỹ đạo (chụp bởi các nhà du hành sau khi rời khỏi trạm)

Phi hành đoàn SL4 đã bay 1214 vòng quanh Trái Đất, thực hiện nhiều thí nghiệm y học, quan sát Mặt Trời, tài nguyên Trái Đất và sao chổi Kohoutek. Sau khi phi hành đoàn SL4 rời khỏi Skylab, trạm không gian vẫn tiếp tục ở trên quỹ đạo cho đến khi rơi trở lại vào bầu khí quyển ngày 11/07/1979. Tổng cộng Skylab đã ở trên quỹ đạo 2249 ngày (trong đó 171 ngày có phi hành đoàn), bay được 34981 vòng xung quanh Trái Đất.


Ảnh:Phù hiệu SL4

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 - 2007. February 8 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_08.htm
[2]. Wikipedia, 07/2008. Skylab, http://en.wikipedia.org/wiki/Skylab

Hero_Zeratul
ttvnol.com

James Melville Gilliss sinh ra tại Georgetown, Washington D. C. Ông gia nhập hải quân Hoa Kỳ khi mới chỉ 15 tuổi. Sau một thời gian làm việc trên các chiến hạm, năm 1831, Gilliss tiếp tục quá trình học tập tại trường đại học Virgina và tại Paris. Năm 1836, ông được bổ nhiệm làm trợ tá tại kho bản đồ và dụng cụ của hải quân. Năm 1837, Gilliss tham gia vào chuyến thám hiểm do thuyền trưởng Charles Wilkes chỉ huy. Trong chuyến đi này, ông đảm nhận việc đo đạc kinh độ dựa vào vị trí của Mặt Trăng, khảo sát thời tiết và nghiên cứu từ trường. Ông là nhà thiên văn Hoa Kỳ đầu tiên xuất bản các kết quả quan sát và xây dựng bản đồ sao. Năm 1838, Gilliss được phong hàm đại úy hải quân.


Ảnh: James Melville Gilliss (06/09/1811 – 09/02/1865)

Tháng 8 năm 1842, quốc hội Hoa Kỳ đã quyết định nâng cấp kho bản đồ và dụng cụ của hải quân thành đài thiên văn quốc gia và Gilliss được ủy nhiệm là trưởng dự án. Ông đã tham khảo ý kiến của các nhà thiên văn Hoa Kỳ đồng thời có một chuyến công tác sang châu Âu để thu thập sách vở, mua và học cách sử dụng các thiết bị thiên văn. 18 tháng sau khi Gilliss quay trở lại Hoa Kỳ, quá trình xây dựng và trang bị cho đài thiên văn cùng với thư viện của nó đã được hoàn thành. Với những đóng góp trên, Gilliss được tôn vinh là người sáng lập ra đài thiên văn Hải quân Hoa Kỳ.

Nhiệm vụ quản lý đài thiên văn sau đó được trao cho Matthew F. Maury, Gilliss tiếp tục thực hiện quá trình khảo sát bờ biển Hoa Kỳ và hiệu chỉnh lại các bảng vị trí Mặt Trăng của ông đã được công bố trước đó. Từ năm 1848 đến năm 1861, Gilliss đã tiến hành rất nhiều các quan sát, đo đạc thiên văn không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở 1 số nước khác như Chi Lê, Peru. Ông tham gia vào quá trình xây dựng đài thiên văn quốc gia Chi Lê.

Từ năm 1861, Gilliss quay trở lại với công tác quản lý đài thiên văn Hải quân. Dưới sự lãnh đạo của ông, đài thiên văn Hải quân đã phát triển trở thành một trong những đài thiên văn hiện đại nhất thời bấy giờ. Gilliss cũng là một trong những thành viên đầu tiên của viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 9 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_04.htm
[2] Evisum Inc, Copyright© 2000. Virtual American Biographies, James Melville Gilliss, http://www.famousamericans.net/jamesmelvillegilliss/
[3] Wikipedia, 1/2008. [b]James Melville Gilliss, http://en.wikipedia.org/wiki/James_Melville_Gilliss

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 11/02/1970, Nhật Bản đã phóng thành công vệ tinh đầu tiên: Osumi 5 [1]. Với sự kiện trên, Nhật Bản đã trở thành nước thứ 4 trên thế giới phóng vệ tinh vào vũ trụ (sau Liên Xô, 1957; Hoa Kỳ, 1958; Pháp, 1965). Osumi nặng 24 kg, sử dụng tên lửa đẩy Lambda 4S, có nhiệm vụ thám hiểm tầng trên của khí quyển. Trước Osumi 5, Nhật Bản đã thất bại tổng cộng 4 lần trong việc phóng vệ tinh.


Ảnh: Tên lửa Lambda 4S

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 11 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_11.htm

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 12/02/2001, tàu thám hiểm NEAR-Shoemaker đã đổ bộ xuống bề mặt tiểu hành tinh Eros [1]. Được phóng đi từ ngày 17/02/1996, NEAR-Shoemaker đã tiếp cận Eros vào giai đoạn cuối năm 1998, đầu 1999. Tháng 2 năm 2000, NEAR-Shoemaker bắt đầu thâm nhập vào quỹ đạo xung quanh Eros, sau đó 1 năm, ngày 12/02/2001, tàu thám hiểm đã hạ cánh mềm thành công xuống bề mặt tiểu hành tinh. Sau khi đổ bộ, NEAR-Shoemaker còn tiếp tục hoạt động cho đến ngày 2802/2001.[2]


Ảnh: NEAR-Shoemaker nằm trong tên lửa Delta II

NEAR-Shoemaker là dự án đầu tiên thực hiện việc phóng tàu thám hiểm nghiên cứu các tiểu hành tinh gần Trái Đất (Near Earth Asteroid Rendezvous). Đây cũng là thiết bị nhân tạo đầu tiên của con người hạ cánh thành công xuống bề mặt một tiểu hành tinh [2]


Ảnh: NEAR-Shoemaker tiếp cận Eros

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]. JHUAPL. NEAR Fact Sheet, near.jhuapl.edu/media/NEAR_fact_sheet.pdf

Hero_Zeratul
ttvnol.com