Dreyer sinh ra ở Copenhagen, năm 22 tuổi, ông đi sang Ireland làm phụ tá cho Lawrence Parsons, bá tước đời thứ 4 vùng Rosse, năm 1878, ông làm việc tại đài thiên văn Dunsink, năm 1882, ông làm giám đốc đài thiên văn Armagh cho đến năm 1916.


Ảnh: Johan Ludvig Emil Dreyer (13/02/1852 – 14/09/1926)[1]

Đóng góp to lớn nhất của Dreyer cho Thiên văn học, đó là việc ông biên soạn "Danh mục tổng quan về các Tinh vân và Nhóm sao" (New General Catalogue of Nebulae and Clusters of Stars, (NGC)) vào năm 1888. Danh mục này chứa 7840 thiên thể. Dreyer còn biên soạn thêm hai bảng danh mục (Index Catalogue – IC 1 và 2) bổ xung thêm 5386 thiên thể vào các năm 1895, 1908 [2].

Dreyer cũng là một nhà viết sử thiên văn học. Năm 1890, ông hoàn thành bản tiểu sử Tycho Brahe. Năm 1905, ông hoàn thành tác phẩm "Lịch sử Hệ mặt trời từ Thales đến Kepler" (History of the Planetary Systems from Thales to Kepler), sau đổi tên thành «Lịch sử Thiên văn học từ Thales đến Kepler» (History of Astronomy from Thales to Kepler)[2]

Tên của ông được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 11 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_11.htm
[2]Wikipedia, 2/2007. [b]John Dreyer, http://en.wikipedia.org/wiki/Johan_Ludvig_Emil_Dreyer

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ông là người đề xuất ra rất nhiều giả thiết nổi tiếng ngày nay đang được ứng dụng để nghiên cứu vũ trụ như: sự tồn tại của vật chất tối, nguyên nhân và quá trình xảy ra supernova, ... [2]


Ảnh: Fritz Zwicky (14/02/1898 – 08/02/1974) [1]

Zwicky sinh ra ở Bulgari, học toán và vật lý tại Học viện Kỹ Thuật liên bang Thụy Sĩ. Năm 1925, ông di cư sang Hoa Kỳ và làm việc tại Học viện Kỹ thuật California (Caltech). Năm 1933, Zwicky cùng với Walter Baade đã dự đoán sự tồn tại của vật chất tối khi nghiên cứu cụm thiên hà Coma. Năm 1934 , Zwicky và Baade đã giải thích về mặt lý thuyết nguyên nhân và quá trình hình thành supernova. Zwicky đã tìm và nghiên cứu hơn 120 supernova để bảo vệ lý thuyết của mình. Năm 1937, ông đưa ra nhận xét rằng các cụm thiên hà có thể được sử dụng như những «thấu kính hấp dẫn». Năm 1972, ông hoàn thiện «Danh mục các Thiên hà và Cụm thiên hà» (Catalogue of Galaxies and of Clusters of Galaxies (CGCG)). [2]

Tên ông được đặt cho một tiểu hành tinh (1803 Zwicky), một crater trên Mặt Trăng và một thiên hà (I Zwicky 18) [2]

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 14 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_14.htm
[2]Wikipedia, 2/2007. [b]Fritz Zwicky, http://en.wikipedia.org/wiki/Fritz_Zwicky

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Galileo sinh ra tại thành phố Pisa, vùng Tuscany, nay thuộc miền trung nước Italy. Cha ông là một nhạc sĩ nổi tiếng. Khi còn thiếu niên, Galileo đã có những công trình xuất sắc trong lĩnh vực vật lý. Quan sát chùm đèn treo của nhà thờ Pisa khi đang tham dự một buổi lễ, ông đã khám phá ra nguyên lý hoạt động của con lắc. Theo ý muốn của cha, ban đầu Galileo đăng ký học chuyên ngành dược tại đại học Pisa. Tuy nhiên, ông đã bỏ dở chương trình học và chuyển sang học toán. Năm 1589, ông được bổ nhiệm làm giáo sư toán học của trường. Từ năm 1592 đến năm 1610, Galileo chuyển đến và làm việc tại đại học Padua, giảng dạy các môn địa lý, cơ học và thiên văn học.


Ảnh: Galileo Galilei (15/02/1564 – 08/01/1642)

Trong khoảng thời gian tại đại học Padua, Galileo đã nghiên cứu và có nhiều phát minh trong lĩnh vực cơ học. Ông đã làm thí nghiệm chứng minh tốc độ rơi không phục thuộc vào trọng lượng của vật và được tôn vinh là « cha đẻ của nền khoa học thực nghiệm ». Sau khi nghe tin về « chiếc ống làm cho các vật ở xa hiện lại gần » của Hans Lippershey (năm 1608), « ông bắt đầu những thí nghiệm về các thấu kính của riêng ông và trong vòng sáu tháng đã chế tạo được một chiếc ống còn tốt hơn chiếc ống của Lippershey. Chiếc ống này là kính viễn vọng, có nghĩa là một dụng cụ để nhìn xa ».

« Ông thực hiện một việc lớn lao với kính viễn vọng của ông. Ông không chú ý đến nó về phương diện là một vũ khí chiến tranh hoặc về phương diện buôn bán kiếm lời. Ông hướng nó lên trời! »


Ảnh: Một trong những chiếc kính thiên văn của Galileo

Với chiếc kính này, Galileo đã tìm ra 4 vệ tinh của Sao Mộc; quan sát các pha của Sao Kim; phát hiện các ngọn núi và các crater trên Mặt Trăng; chứng minh dải Ngân Hà bao gồm hàng triệu ngôi sao không thể đếm được, rất nhiều và ở rất xa; quan sát Sao Thổ (Galileo đã thấy Sao Thổ có “hai cái bướu” nhô lên nhưng chiếc kính của ông không đủ mạnh để có thể nhận ra vành đai Sao Thổ); quan sát các vết đen của Mặt Trời. Galileo đã xuất bản tờ báo « Tín sứ của các ngôi sao » (Sidereus Nuncius), trong đó ông công bố những phát hiện của mình.

Năm 1611, Galileo đến Roma, gia nhập viện hàm lâm Lincei. Galileo là người ủng hộ và góp phần quan trọng trong việc phổ biến thuyết Nhật Tâm của Copernicus. Năm 1612, cuộc chiến chống lại thuyết Nhật Tâm của Copernicus do nhà thờ phát động đã bùng nổ. Galileo đã phải chịu nhiều chỉ trích cũng như tố cáo từ giới tu sĩ. Tuy nhiên, Galileo vẫn giữ vững những quan điểm của mình và tiếp tục viết nhiều tác phẩm phủ nhận thuyết Địa Tâm. Năm 1632, Galileo cho xuất bản một tác phẩm lớn của ông, tên là « Đối thoại về hai hệ thống chính của vũ trụ » (Dialogo sopra i due massimi sistemi del mondo), trong đó có 3 nhân vật thảo luận về vũ trụ. Một người đưa ra câu hỏi, tìm kiếm kiến thức. Hai người còn lại, một người theo Ptolemy, một người theo Copernicus, người nào cũng trình bày các lý lẽ của mình. Tất nhiên Galileo để cho người theo Copernicus thắng thế ». Cuốn sách đã gây ra « một cuộc bùng nổ giận dữ » ở La Mã, kẻ thù của Galileo thuyết phục giáo hoàng hành động, thế là Galileo bị gọi ra tòa án dị giáo. Ngày 22/06/1633, ông già đó (đã 69 tuổi) bắt buộc phải quỳ gối và phủ nhận thuyết Copernicus là đúng, tức là phủ nhận Trái Đất chuyển động. Rồi Galileo được về nhà (vùng Arcetri, Florence), sống lặng lẽ trong hơn 8 năm cuối cùng, không gây chuyện rắc rối, hoặc không bị mắc vào chuyện rắc rối. Ông qua đời ngày 8 tháng một năm 1642. Hiện nay, ông được an táng tại nhà thờ Basilica di Santa Croce, Florence.

Có một giai thoại nói rằng khi Galileo ra trước tòa án dị giáo, ông giậm chân xuống đất và lẩm bẩm « Nhưng dù sao Trái Đất vẫn chuyển động ». Mặc dù đó chỉ là một giai thoại, không thể khẳng định là chính xác hay không, nhưng chắc chắn những lời đó đã được hầu hết các nhà thiên văn và học giả châu Âu thét to lên.

Bài viết được tổng hợp từ một số tài liệu trên Internet, có trích dẫn một số đoạn trong cuốn sách: Hệ Mặt Trời của tác giả Isaac Asimov, dịch giả Đắc Lê, do NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội xuất bản năm 1980.


Ngày sinh nhà thiên văn học Hoa Kỳ William Henry Pickering (15/02/1858 – 17/01/1938).


Ảnh: William Henry Pickering (15/02/1858 – 17/01/1938)

William Henry Pickering sinh ra tại thành phố Boston, bang Massachusetts, đông bắc Hoa Kỳ. Ông là em ruột của nhà thiên văn Edward Charles Pickering (1). Năm 1891, W.H.Pickering theo anh đến Peru để thiết lập trụ sở của đài thiên văn Harward. Hai năm sau, ông quay trở lại Hoa Kỳ và tham gia quá trình xây dựng đài thiên văn tại Texas của Percival Lowell (nơi Clyde Tombaugh đã tìm ra Sao Diêm Vương). Năm 1899, Pickering phát hiện Phoebe, vệ tinh thứ 9 của Sao Thổ. Đây là vệ tinh đầu tiên được phát hiện dựa vào việc phân tích dữ liệu trên các bức ảnh chụp. 6 năm sau, W.H.Pickering tiếp tục công bố sự tồn tại của 1 vệ tinh khác của Sao Thổ và đặt tên là Themis. Tuy nhiên, sau đó, các nhà thiên văn đã xác nhận W.H.Pickering đã nhầm lẫn, vệ tinh này không hề tồn tại.

W.H.Pickering đã tham gia chỉ đạo nhiều chuyến quan sát nhật thực. Ông cũng tập trung nghiên cứu các crater của Mặt Trăng. Quan sát sự thay đổi của crater Eratosthenes, ông đưa ra giả thiết trên Mặt Trăng có côn trùng. W.H.Pickering còn khẳng định sự tồn tại thực vật trên Mặt Trăng (tất nhiên, ngày nay ta biết rằng những giả thiết và khẳng định trên của ông là không đúng). Ông cũng đã dành rất nhiều thời gian cho việc tìm kiếm « hành tinh X » dựa trên những nhiễu động trong quỹ đạo Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương nhưng không thu được thành công. Năm 1903, W.H.Pickering xuất bản cuốn atlas Mặt Trăng bằng ảnh chụp (The Moon : A Summary of the Existing Knowledge of our Satellite).Trong những năm cuối đời, ông sống và làm việc chủ yếu ở Jamaica, tại một đài thiên văn do ông xây dựng.

Tên của ông và anh trai (Edward Charles Pickering) được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 15 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_15.htm
[2]Wikipedia, 12/2006. William Henry Pickering, http://en.wikipedia.org/wiki/William_Henry_Pickering

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày sinh nhà thiên văn học Hoa Kỳ William Henry Pickering (15/02/1858 – 17/01/1938).



Ảnh: William Henry Pickering (15/02/1858 – 17/01/1938)


William Henry Pickering sinh ra tại thành phố Boston, bang Massachusetts, đông bắc Hoa Kỳ. Ông là em ruột của nhà thiên văn Edward Charles Pickering (1). Năm 1891, W.H.Pickering theo anh đến Peru để thiết lập trụ sở của đài thiên văn Harward. Hai năm sau, ông quay trở lại Hoa Kỳ và tham gia quá trình xây dựng đài thiên văn tại Texas của Percival Lowell (nơi Clyde Tombaugh đã tìm ra Sao Diêm Vương). Năm 1899, Pickering phát hiện Phoebe, vệ tinh thứ 9 của Sao Thổ. Đây là vệ tinh đầu tiên được phát hiện dựa vào việc phân tích dữ liệu trên các bức ảnh chụp. 6 năm sau, W.H.Pickering tiếp tục công bố sự tồn tại của 1 vệ tinh khác của Sao Thổ và đặt tên là Themis. Tuy nhiên, sau đó, các nhà thiên văn đã xác nhận W.H.Pickering đã nhầm lẫn, vệ tinh này không hề tồn tại.

W.H.Pickering đã tham gia chỉ đạo nhiều chuyến quan sát nhật thực. Ông cũng tập trung nghiên cứu các crater của Mặt Trăng. Quan sát sự thay đổi của crater Eratosthenes, ông đưa ra giả thiết trên Mặt Trăng có côn trùng. W.H.Pickering còn khẳng định sự tồn tại thực vật trên Mặt Trăng (tất nhiên, ngày nay ta biết rằng những giả thiết và khẳng định trên của ông là không đúng). Ông cũng đã dành rất nhiều thời gian cho việc tìm kiếm « hành tinh X » dựa trên những nhiễu động trong quỹ đạo Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương nhưng không thu được thành công. Năm 1903, W.H.Pickering xuất bản cuốn atlas Mặt Trăng bằng ảnh chụp (The Moon : A Summary of the Existing Knowledge of our Satellite).Trong những năm cuối đời, ông sống và làm việc chủ yếu ở Jamaica, tại một đài thiên văn do ông xây dựng.

Tên của ông và anh trai (Edward Charles Pickering) được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 15 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/2/2_15.htm
[2]Wikipedia, 12/2006. William Henry Pickering, http://en.wikipedia.org/wiki/William_Henry_Pickering

Langley sinh ra ở Roxbury, Boston, bang Massachusetts. Từ năm 1865 đến năm 1866, ông làm việc tại đài thiên văn Harvard. Năm 1866, ông chuyển đến giảng dạy toán học Học viện Hải Quân Hoa Kỳ. Năm sau, ông được bổ nhiệm làm giám đốc đài thiên văn Allegheny tại Pittsburg. Langley đảm nhiệm chức vụ này cho đến năm 1887. Từ năm 1887 cho đến cuối đời, ông làm công tác quản lý tại viện Smithsonian, Washington, D.C.

Ngày 24/08/2006, phiên bế mạc kỳ họp thứ 26 của Đại hội đồng (General Assembly) Hiệp hội thiên văn quốc tế (International Astronomical Union, IAU) đã thông qua quyết định (resolution) mới về «định nghĩa hành tinh». Nội dung quyết định này đã nêu rõ định nghĩa về "hành tinh" và "hành tinh lùn":

(1) A "planet" is a celestial body that (a) is in orbit around the Sun, (b) has sufficient mass for its self-gravity to overcome rigid body forces so that it assumes a hydrostatic equilibrium (nearly round) shape, and (c) has cleared the neighbourhood around its orbit.

(2) A "dwarf planet" is a celestial body that (a) is in orbit around the Sun, (b) has sufficient mass for its self-gravity to overcome rigid body forces so that it assumes a hydrostatic equilibrium (nearly round) shape, (c) has not cleared the neighbourhood around its orbit, and (d) is not a satellite


Tạm dịch:


(1): Hành tinh là thiên thể thỏa mãn các điều kiện sau: (a) chuyển động xung quanh Mặt Trời, (b) có khối lượng đủ lớn sao cho có dạng gần như hình cầu nhờ vào lực hấp dẫn của chính bản thân, và (c) quét sạch vùng không gian xung quanh quỹ đạo của nó

(2): Hành tinh lùn là thiên thể thỏa mãn các điều kiện sau: (a) chuyển động xung quanh Mặt Trời, (b) có khối lượng đủ lớn sao cho có dạng gần như hình cầu nhờ vào lực hấp dẫn của chính bản thân, (c) không quét sạch vùng không gian xung quanh quỹ đạo của nó và (d) không phải là một vệ tinh

Theo định nghĩa như trên, Hệ Mặt Trời có 8 hành tinh: Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương; 3 hành tinh lùn: Ceres, Sao Diêm Vương và Eris (trước có tên tạm là 2003 UB313, tên chính thức Eris được chấp nhận vào ngày 13/09/2006). Cả 3 hành tinh lùn đều không thỏa mãn điều kiện (c) : “quét sạch vùng không gian xung quanh quỹ đạo”. Ceres thuộc về vành đai tiểu hành tinh giữa Sao Hỏa và Sao Mộc, Sao Diêm Vương thuộc về vành đai Kuiper, Eris thuộc về vùng không gian có tên là Scattered disc.

Kể từ tháng 8/2006 đến nay (08/2010), đã có thêm 2 thiên thể nữa của hệ Mặt Trời đủ điều kiện "hành tinh lùn": Makemake và Haumea.


Ảnh: Các hành tinh và hành tinh lùn (tính đến tháng 8/2006) theo định nghĩa mới của IAU

Trần Tuấn Tú (HAAC)

Tài liệu tham khảo:
[1]IAU - INTERNATIONAL ASTRONOMICAL UNION. IAU 2006 General Assembly: Result of the IAU Resolution votes, http://www.iau.org/iau0603.414.0.html

Frederick William Herschel sinh ra ở Hanover, Đức với tên khai sinh là Friedrich Wilhelm. Cha ông (Issac Herschel) là một thành viên của đội quân nhạc thành phố. Năm 1755, đội quân nhạc Hanover được điều đến Anh (hồi đó cả Hanover và Anh đều đặt dưới quyền cai trị của vua George II).


Ảnh: Frederick William Herschel (15/11/1738 – 25/08/1822)

Năm 19 tuổi, W.Herschel đến Anh và đổi tên thành Frederick William. Ban đầu, ông nối nghiệp cha trở thành giáo viên âm nhạc và chỉ huy ban nhạc. W.Herschel có thể chơi tốt nhiều loại nhạc cụ và đã biên soạn nhiều bản giao hưởng (tuy nhiên, đa số các sáng tác của ông đã bị thất lạc). Trong thời gian này, một số anh chị em của ông cũng di cư đến Anh, trong số đó có Caroline Lucretia Herschel, nhà nữ thiên văn đầu tiên.

Ngoài công việc chính trong lĩnh vực âm nhạc, W.Herschel còn rất đam mê nghiên cứu Thiên văn học. Ông đã tự chế tạo ra nhiều kính thiên văn và trao đổi với nhà thiên văn hoàng gia Nevil Maskelyne. Ông đã tiến hành quan sát và đo chiều cao của các dãy núi trên Mặt Trăng, nghiên cứu các hệ sao đôi.

Ngày 13/03/1781, W.Herschel đã phát hiện hành tinh thứ 7 của Hệ Mặt Trời. Ban đầu, ông đặt tên cho thiên thể đó là “Georgium Sidus” (ngôi sao của vua George) nhằm vinh danh người bảo trợ của ông là vua George III. Tuy nhiên, hành tinh này đã được nhà thiên văn Đức Johann Elert Bode đề nghị đặt tên là Uranus – Sao Thiên Vương (theo tên Latin của thần Bầu trời Ouranos trong thần thoại Hy Lạp). Khám phá ra Sao Thiên Vương đã đem lại nhiều vinh quang cho Herschel, ông được trao tặng huân chương Copley, được bầu làm thành viên hội Hoàng gia và năm sau, ông được đảm nhận nhiệm vụ “nhà thiên văn của vua” ("The King’s Astronomer).
Cùng với em gái là Caroline, W.Herschel đã tiếp tục các quan sát, nghiên cứu cũng như công việc chế tạo kính thiên văn. Ngày 11/01/1787, W.Herschel khám phá hai vệ tinh đầu tiên của Sao Thiên Vương: Oberon và Titania. Năm 1789, ông hoàn thành chiếc kính phản xạ đường kính 126 cm, chiều dài quang học 12m. Ngày 28/08/1789, trong lần quan sát đầu tiên với chiếc kính khổng lồ, ông đã phát hiện ra vệ tinh Enceladus của Sao Thổ, gần 1 tháng sau (ngày 17/09), ông tiếp tục phát hiện thêm 1 vệ tinh nữa: Mimas.


Ảnh: Kính thiên văn dài 12 m của W.Herschel

W.Herschel tiếp tục có thêm nhiều thành công trong các lĩnh vực khác nhau của thiên văn học. Ông đã lập ra một danh mục rất chi tiết các “tinh vân” (khái niệm tinh vân thời đó bao gồm cả những thiên hà, đám sao và tinh vân ngày nay). Ông đã phát hiện ra trường hợp “sao đôi vật lý” đầu tiên. Đó cũng là những bằng chứng đầu tiên về sự đúng đắn của định luật Vạn vật hấp dẫn đối với chuyển động của các thiên thể bên ngoài Hệ Mặt Trời.

Bằng cách nghiên cứu chuyển động riêng của các ngôi sao, W.Herschel đã chứng minh rằng toàn bộ Hệ Mặt Trời chuyển động trong không gian. Ông đã tìm ra hướng của chuyển động đó. W.Herschel cũng nghiên cứu về cấu trúc của Ngân Hà và kết luận rằng nó có dạng “đĩa”.

Đầu thế kỷ 19, khi Piazzi, Olbers, ... liên tiếp tìm ra những thiên thể mới chuyển động trong vùng không gian giữa Sao Hỏa và Sao Mộc, W.Herschel đã đề nghị gọi chúng là asteroid (có nghĩa là “giống như các ngôi sao”), Ông chỉ ra rằng xét đến cùng ngay cả trong kính viễn vọng, chúng cũng xuất hiện giống như ngôi sao và chỉ là các điểm sáng, do kích thước nhỏ bé của chúng. Piazzi đã phản đối ý kiến trên, đề nghị gọi là các "planetoid" (có nghĩa là "giống hành tinh"). Cả hai tên đó đều được sử dụng. Ngày nay, các tài liệu tiếng Anh hay gọi chúng là các "minor planet". Còn trong các tài liệu tiếng Việt, các thiên thể kiểu này được gọi là các "tiểu hành tinh".

W. Herschel là người đầu tiên khám phá ra sự tồn tại của tia hồng ngoại khi ông cho ánh sáng đi qua 1 lăng kính và đặt nhiệt kế vào sát ngay bên ngoài vạch đỏ. Ông tiếp tục tiến hành các nghiên cứu và đi đến kết luận rằng còn nhiều dạng sóng không nhìn thấy được tồn tại bên ngoài dải sóng khả kiến.
Con trai ông: John Herschel (07/03/1792 – 11/05/1871) cũng là một nhà thiên văn rất nổi tiếng trong thế kỷ XIX. Một số người cháu của ông (con trai của John Herschel) cũng tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thiên văn.


Ảnh: Bức ảnh tổng hợp chuyển động của bầu trời sao và tòa nhà chứa kính thiên văn William Herschel tại La Palma.

W. Herschel được đánh giá là một trong những nhà thiên văn lỗi lạc nhất của nhân loại. Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hỏa, một crater trên vệ tinh Mimas của Sao Thổ, một tiểu hành tinh (Asteroid 2000 Herschel), một ngôi sao khổng lồ trong chòm Cepheus, một kính thiên văn đường kính 4.2 mét đặt tại La Palma, và rất nhiều trường học, học viện, địa danh trên Thế giới. Ngày 14/05/2009, đài thiên văn Herschel (vinh danh William Herschel và Caroline Herschel) của ESA và NASA đã được phóng thành công lên không gian.


Ảnh: Mô hình đài thiên văn không gian Herschel


Trần Tuấn Tú (HAAC)
Tổng hợp từ Wikipedia và 1 số tài liệu khác