Ngày 23 tháng 1 năm 2004, Jay McNeil, một nhà thiên văn nghiệp dư người Mỹ đã khám phá ra một tinh vân mới trong chòm sao Orion[1, trang 24]. Tinh vân này đã đươc đặt tên là «Tinh vân McNeil» (McNeil“s Nebula).


Ảnh: Vị trí tinh vân McNeil
Điều đáng ngạc nhiên là McNeil phát hiện ra tinh vân mới này dựa trên việc phân tích các bức ảnh chụp từ chiếc kính thiên văn nghiệp dư có đường kính chỉ 3 inch. Hơn nữa, trong thời đại khoa học kỹ thuật ngày nay, khi bầu trời được quan sát bởi hàng chục, hàng trăm kính viễn vọng khổng lồ, trên cả mặt đất lẫn trong không gian, phát hiện của McNeil quả là rất đáng trân trọng.[2] Phát hiện này cổ vũ tất cả những người yêu thích thiên văn học: «bầu trời, vũ trụ còn rất nhiều bí ẩn đang chờ con người khám phá, không nhất thiết phải là nhà thiên văn chuyên nghiệp, bạn vẫn có thể đóng góp cho Thiên văn học».

 

Ảnh: Jay McNeil

 

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]. Robert Roy Britt, 23/02/2004. Amateur Finds New Nebula with Small Telescope[/b], http://www.space.com/scienceastronomy/mystery_monday_040223.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Các nghiên cứu của ông tập trung vào từ trường của Mặt Trời và các ngôi sao. Năm 1951, cùng với con trai là Horace W. Babcock, ông đã phát minh ra từ ký Mặt Trời (solar magnetograph). Thiết bị đo này không chỉ cho phép ông có được những kết quả rất chính xác về sự phân bố của từ trường trên Mặt Trời mà còn giúp phát hiện ra sự biến đổi từ trường của những ngôi sao khác trong vũ trụ [1]. Năm 1961, ông đã giải thích sự xuất hiện của các vết đen là bắt nguồn từ chuyển động vi sai và sự biến thiên từ trường của Mặt Trời. [2, trang 25]


Ảnh: Harold Babcock (24/01/1882 – 08/04/1968)

 

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. January 24 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_24.htm
[2]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Những công trình toán học của Langrange có ảnh hưởng rất nhiều đến lĩnh vực cơ học thiên thể. Ông đã dùng toán học chứng minh tính bền vững của hệ Mặt Trời, chỉ ra các điểm Lagrange (Lagrangian Points). Giả sử ta có 2 vật khối lượng lớn, và một vật khối lượng nhỏ hơn hẳn hai vật đó, trong không gian sẽ tồn tại 5 điểm mà ở đó vật khối lượng nhỏ sẽ luôn duy trì vị trí tương đối so với 2 vật khối lượng lớn.[2]


Ảnh: Joseph-Louis Lagrange (25/01/1736 – 10/04/1813) [1, trang 26]

Một trong những ví dụ minh họa nổi tiếng nhất về điểm Lagrange đó là vị trí tương đối của Sao Mộc, Mặt Trời và tiểu hành tinh Asin. Quỹ đạo của Asin gần giống với quỹ đạo của Sao Mộc, tuy vậy, nó chẳng bao giờ đụng độ với Sao Mộc, bởi vì nó cách xa vị trí của Sao Mộc trên quỹ đạo hơn 650 triệu km, và nó luôn chuyển động với vận tốc bằng tốc độ của Sao Mộc cho nên nó cứ nằm cách Sao Mộc 650 triệu km.[3, trang 155]

Nếu ta vẽ một đường xuất phát từ Mặt Trời tới Sao Mộc rồi kéo tới tiểu hành tinh Asin và quay trở lại Mặt Trời, thì sẽ được một tam giác đều. Lagrange đã chứng minh rằng một vị trí như vậy sẽ bền vững, cho nên những thiên thể cứ ở mãi các đỉnh của một tam giác đều tuy chúng vẫn chuyển động [3, trang 156]. Tại các điểm Langrange L4 và L5 của hệ Sao Mộc – Mặt Trời, người ta đã phát hiện ra nhiều tiểun hành tinh và được gọi là các hành tinh thành Troy (Các tiểu hành tinh này được đặt tên theo các nhân vật trong trận chiến thành Troy như: Asin, Ajax, Hector, Priams, ...)


Ảnh: Các hành tinh thành Troy
Tài liệu tham khảo:
[1]Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2].JOC/EFR © January 1999. Joseph-Louis Lagrange, http://www-history.mcs.st-andrews.ac.uk/Biographies/Lagrange.html
[3]. Isaac Asimov, 1966. Hệ Mặt Trời, người dịch Đắc Lê, NXB Khoa Học và Kỹ Thuật, 1980)

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ranger 3 là tàu thăm dò đầu tiên thuộc thế hệ thứ hai của dự án Ranger (dự án thám hiểm Mặt Trăng bằng thiết bị không người lái của Hoa Kỳ). NASA đã rất kỳ vọng vào các Ranger thế hệ 2 này với việc triển khai nhiều thiết bị đo đạc và module đổ bộ[1]. Các Ranger 3, 4 và 5 dự kiến sẽ bay đến, chụp ảnh và thả module đổ bộ xuống Mặt Trăng. Module đổ bộ chứa máy đo địa chấn sẽ hạ cánh mềm bằng phản lực để có thể tiếp tục hoạt động trên Mặt Trăng.

Ảnh: Ranger 3 [1].

 

Ranger 3 có khối lượng: 327 kg, hệ thống tên lửa đẩy: Atlas LV-3A/Agena B. Do hệ thống dẫn của tên lửa Agena B hoạt động sai nên Ranger 3 bay chệch khỏi Mặt Trăng với khoảng cách 36874 km và tiếp tục bay trên một quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. [1]

 


Ảnh: Tên lửa Atlas LV3/Agena B

 

Trong quá trình bay qua, Ranger 3 đã thực hiện được một số khảo sát tại vùng tia gamma đối với bề mặt Mặt Trăng. Tuy nhiên, quan trọng nhất là những kết quả khảo sát của Ranger 3 đối với cường độ tia gamma trong môi trường vũ trụ. Cường độ của tia gamma trong môi trường vũ trụ mạnh gấp khoảng 10 lần các nhà khoa học dự tính, từ đó cần phải nâng cấp các thiết bị bảo vệ cho những tàu vũ trụ có người lái.[1]

Sau Ranger 3, cả Ranger 4 và 5 đều không đạt được các nhiệm vụ theo thiết kế ban đầu. Điều này dẫn đến việc NASA thiết kế các Ranger thế hệ 3 đơn giản hơn, chỉ bay đến Mặt Trăng và chụp ảnh (Ranger 7 là Ranger đầu tiên hoàn thành mục tiêu đặt ra). Sau dự án Ranger, NASA triển khai song song hai dự án thám hiểm Mặt Trăng:
+ Lunar Orbiter hoạt động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trăng và chụp ảnh
+ Surveyor: thử nghiệm hạ cánh mềm xuống Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]. Mark Wade, 1997 – 2007. Ranger 3-4-5[/b], [i]http://www.astronautix.com/craft/raner345.htm

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 27/01/1967, tai nạn đã xảy ra trong quá trình vận hành thử nghiệm hệ thống Apollo/Sarturn 204 (AS – 204). Hỏa hoạn đã xảy ra trong khoang điều khiển (Command Module) gây ra cái chết của 3 phi công vũ trụ Virgil I. Grissom, Edward H. White và Roger B. Chaffee [1, trang 28]. Theo kế hoạch, AS – 204 và 3 phi công vũ trụ sẽ bay vào không gian, thực hiện nhiệm vụ đầu tiên của chương trình Apollo thám hiểm Mặt Trăng. Sau tai nạn trên, NASA đã quyết định truy tặng danh hiệu «Apollo 1» cho hệ thống và phi hành đoàn.


Ảnh: Grissom, White và Chaffee

Sau sự cố này, hàng loạt thay đổi đã được thực hiện đối với cấu trúc module điều khiển của các tàu Apollo: cấu tạo thay đổi theo hướng nâng cao khả năng thoát hiểm đối với người bên trong; thành phần không khí ban đầu chuyển thành 60% oxy và 40 % nitơ; các vật liệu dễ cháy hoàn toàn bị thay thế; bộ quần áo phi hành và các thiết bị thông tin cũng được cải tiến.[2]

Tài liệu tham khảo:
[1]Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]Steve Garber, NASA History Web Curator , update 01/2007. NASA Apollo Mission Apollo-1, http://history.nasa.gov/Apollo204/

Hero_Zeratul
ttvnol.com

16h38 phút GMT ngày 28/01/1986, tàu con thoi Challenger đã gặp tai nạn chỉ 73 giây sau khi phóng, gây ra cái chết của 7 nhà du hành vũ trụ Hoa Kỳ. Nguyên nhân tai nạn được xác định là do vết hàn ở khoang nhiên liệu rắn bên phải của tên lửa đẩy bị thủng. [1]

 


Ảnh: Tai nạn tàu Challenger

 

Đây là chuyến bay thứ 25 của tàu Challenger với nhiệm vụ triển khai 1 số thiết quan sát lên quỹ đạo , phóng thiết bị theo dõi sao chổi Halley và thực hiện 1 số thí nghiệm trong vũ trụ. 7 nhà du hành hy sinh trong tai nạn này là:

+ Francis R. Scobee: Commander
+ Michael J. Smith: Pilot
+ Judith A. Resnik: Mission Specialist 1
+ Ellison S. Onizuka: Mission Specialist 2
+ Ronald E. McNair: Mission Specialist 3
+ Gregory B. Jarvis: Payload Specialist 1
+ Sharon Christa McAuliffe: Payload Specialist 2

 


Ảnh: Phi hành đoàn tàu Challenger gặp nạn

«...
Yet the gods do not give lightly of the powers they have made,
And with Challenger and seven, once again the price is paid
Though a nation watched her falling, yet a world could only cry,
As they passed from us to glory,
Riding fire in the sky!
...» [2]


« ...
Những vị thần không bằng lòng khi con người thách thức các thế lực siêu nhiên,
Tàu Challenger và bảy nhà du hành đã hy sinh trên con đường chinh phục.
Cả nhân loại nhìn thấy họ lâm nguy,
Nhưng chẳng thể làm gì, ngoài việc rơi nước mắt.
Vĩnh biệt chúng ta, họ đi vào lịch sử,
Theo ngọn lửa cháy, họ bay vào trời xanh.
... »


Tài liệu tham khảo:
1. Kenedy Space Center, 2001. 51-L (25), http://science.ksc.nasa.gov/shuttle/missions/51-l/mission-51-l.html
[2]. Jordin Kare, Kristoph Klover. Fire in the sky, http://thienvanbachkhoa.org/news/home/phim-am-nhac-clip-thien-van/1162-fire-in-the-sky.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ông là giám đốc đầu tiên của đài thiên văn Harvard.


Ảnh: William Cranch Bond (09/09/1789 – 29/01/1859) [1].

 

William Cranch Bond ban đầu là một nhà thiên văn nghiệp dư với công việc chính là thợ chế tạo đồng hồ. Năm 1815, Bond được đại học Harvard cử đi châu Âu thăm quan, học tập kinh nghiệm xây dựng đài thiên văn. Năm 1839, đài thiên văn Harvard khánh thành và William Cranch Bond giữ cương vị giám đốc. Năm 1848, cùng với con trai là George Phillips Bond, ông phát hiện ra vệ tinh thứ 8 của Sao Thổ – Hyperion (độc lập với cha con ông, nhà thiên William Lassell cũng đã phát hiện ra vệ tinh này cũng trong năm 1848) [2]. Cha con ông là những nhà thiên văn Hoa Kỳ đầu tiên áp dụng kỹ thuật chụp ảnh vào việc quan sát thiên văn [2].

Tên của cha con ông được dùng để đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một vùng trên bề mặt vệ tinh Hyperion và tên của tiểu hành tinh số 767 (Bondia)[2]

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 - 2007. January 29 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/11/1_29.htm
[2]. Hartmut Frommert, Christine Kronberg, 09/2006. William Cranch Bond (September 9, 1789 - January 29, 1859), http://www.seds.org/messier/xtra/Bios/wcbond.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 31/01/1958, Hoa Kỳ chính thức bước vào kỷ nguyên vũ trụ bằng việc phóng thành công vệ tinh Explorer 1[1]. Explorer 1 có dạng hình trụ, dài 2.03 m, đường kính 0.152 m, khối lượng 13.97 kg, được đưa lên không gian bởi tên lửa đẩy Jupiter – C. Explorer 1 đã chứng minh sự tồn tại vành đai các hạt mang năng lượng cao bao quanh Trái Đất đã được dự đoán trước đó bởi tiến sĩ James A. Van Allen (vành đai này được đặt tên là vành đai Van Allen)[2]


Ảnh: Vệ tinh Explorer 1
Ngày 31/01/1961, NASA đã đưa loài linh trưởng đầu tiên lên vũ trụ: chú tinh tinh 4 tuổi tên là Ham [1]. Đây là một trong những thử nghiệm cuối cùng nhằm đưa người lên vũ trụ của Hoa Kỳ. Chuyến bay thành công, Ham đã chịu trạng thái không trọng lượng trong khoảng 7 phút, trở về Trái Đất an toàn [3]. Ngày 5/5/1961, phi công vũ trụ Alan B. Shepard đã trở thành người Hoa Kỳ đầu tiên bay vào vũ trụ [1]

 


Ảnh: Ham sau chuyến bay thành công

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 - 2007. January 31 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_31.htm
[2]. Explorer 1, 01/2005. Ed Grayzeck, http://nssdc.gsfc.nasa.gov/database/MasterCatalog?sc=1958-001A
[3]. Kristine Sigsbee, 06/2001. Ham, http://ham.space.umn.edu/kris/ham.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com

STS-107 là chuyến bay lên không gian thứ 28 của tàu con thoi Columbia. Nhiệm vụ kéo dài trong 15 ngày 22 giờ với mục đích chính là tiến hành các thí nghiệm trong môi trường không trọng lượng. Phi hành đoàn STS-107 bao gồm 7 người:

+ Rick D. Husband : chỉ huy
+ William C. McCool : phi công
+ Michael P. Anderson : chuyên viên
+ Kalpana Chawla : chuyên viên
+ David M. Brown : chuyên viên
+ Laurel B. Clark : chuyên viên
+ Ilan Ramon : chuyên viên (người Isarel đầu tiên bay vào vũ trụ)

Những phút cuối cùng của tàu con thoi Columbia:
13h52 GMT: các thiết bị đo ở cánh trái, bộ phận phanh và bánh trái mất liên lạc
13h59 GMT: nhiệt độ và áp suất vượt ra khỏi tầm kiểm soát
14h00 GMT: Tàu Columbia bị vỡ vụn tại độ cao 63.176 km trên bầu trời Texas, 16 phút trước thời điểm hạ cánh trong kế hoạch. Toàn bộ phi hành đoàn hi sinh.

Nguyên nhân của tai nạn được kết luận là do một mảnh vỡ nhỏ của tên lửa đẩy đã phá hỏng một miếng cách nhiệt bên cánh trái tàu Columbia trong quá trình phóng. Khi con tàu xuyên quá lớp khí quyển để hạ cánh, không khí nóng đã tràn qua miếng cách nhiệt bị hỏng, phá hủy cấu trúc bên trong của cánh trái, dẫn đến việc toàn bộ tàu con thoi bị mất điều khiển và bị vỡ vụn.


Ảnh: Tai nạn tàu Columbia


Ảnh: Phi hành đoàn tàu Columbia gặp nạn


Tài liệu tham khảo:
[1]Vic Stathopoulos, 11/2006, Space Shuttle Columbia Disaster, http://www.aerospaceguide.net/spaceshuttle/columbia_disaster.html
[2]. Wikipedia, 01/2010 Space Shuttle Challenger disaster, , http://en.wikipedia.org/wiki/Space_Shuttle_Columbia_disaster

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 03/02/1966, tàu đổ bộ Luna 9 của Liên Xô đã hạ cánh thành công xuống Mặt Trăng [1]. Đây là thiết bị thám hiểm đầu tiên của con người hạ cánh «mềm» (soft landing) thành công xuống một thiên thể khác. Luna 9 đã chứng minh được khả năng hạ cánh xuống Mặt Trăng của con người cũng như các thiết bị từ Trái Đất. Luna 9 hoạt động trên Mặt Trăng cho đến khi hết năng lượng vào ngày 6/2


Ảnh: Tàu đổ bộ Luna 9

Ngày 03/02/1966, Hoa Kỳ phóng vệ tinh thời tiết đầu tiên ESSA-1 ((Environmental Science Services Administration)[1]. ESSA -1 có dạng hình trụ đa giác đều 18 mặt, đường kính 42 inch, chiều cao 22 inch và nặng 305 bảng.


Ảnh: Vệ tinh thời tiết ESSA - 1

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. February 3 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_20.htm

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Với chiếc kính phản xạ tự chế từ những thiết bị bỏ đi trong trang trại gia đình, Tombaugh tiến hành quan sát Sao Hỏa và Sao Mộc. Những kết quả quan sát thiên văn giúp ông tìm được công việc ở đài thiên văn Lowell, vận hành một chiếc kính thiên văn 13 inch có khả năng chụp ảnh. Nhiệm vụ của ông là chụp và so sánh các bức ảnh thiên văn nhằm tìm ra «Hành tinh X» dựa trên những tính toán, dự đoán của Percival Lowell. 16h ngày 18/02/1930, Tombaugh đã phát hiện ra sự dịch chuyển của một điểm sáng cấp 17 trong vùng trời cạnh sao Delta Geminorum. Đó chính là hành tinh nằm ngoài Sao Hải Vương mà nhiều nhà toán học, thiên văn học đang tìm kiếm. Hành tinh đó được đặt tên là Pluto (Sao Diêm Vương). [2]


Ảnh: Clyde William Tombaugh (4/2/1906 – 17/1/1997) [1].

Tombaugh tiếp tục tiến hành các quan sát thiên văn trong khoảng 15 năm nữa, ông đã tìm ra nhiều tiểu hành tinh, sao chổi và các nhóm sao. Sau đó, ông giành thời gian chủ yếu tham gia vào một số chương trình không gian và công tác giảng dạy.[2]

Ngày 19/01/2006, tàu New Horizons của NASA đã lên đường với nhiệm vụ chủ yếu là thám hiểm Sao Diêm Vương. Trên New Horizons có mang theo một chút tro của Clyde Tombaugh. [3]


Ảnh: Tàu thăm dò New Horizons

Ngày 04/02/1961: Liên Xô phóng tàu thăm dò Sputnik-7

Sputnik-7 là tàu vũ trụ đầu tiên của Liên Xô hướng về Sao Kim. Quá trình phóng bao gồm 2 giai đoạn cơ bản:

+ Đưa thiết bị thám hiểm Sao Kim (Venera probe) cùng với một hệ thống phóng (Earth orbiting launch platform) lên quỹ đạo xung quanh Trái Đất.

+ Hệ thống phóng khởi động, đưa thiết bị thám hiểm bay tới Sao Kim.

Sputnik-7 được đưa thành công lên quỹ đạo xung quanh Trái Đất, tuy nhiên, trong giai đoạn 2, động cơ chính của hệ thống phóng chỉ hoạt động được 0.8 giây do có lỗ thủng trong hệ thống bơm nhiên liệu. Thiết bị thám hiểm Sao Kim cùng với hệ thống phóng sau đó đâm xuống Siberi.


Ảnh: Venera probe của tàu Sputnik-8 (Venera probe của Sputnik-7 có cấu tạo tương tự)

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Apollo-14 là chuyến bay có người lái thứ 8 trong chương trình Apollo của NASA (là chuyến bay thứ 4 có nhiệm vụ đổ bộ xuống Mặt Trăng). Phi hành đoàn Apollo-14 bao gồm 3 người:

+ Alan B. Shepard, Jr : chỉ huy.
+ Stuart A. Roosa : phi công module điều khiển (command module). Module điều khiển của Apollo-14 có tên gọi là Kitty Hawk.
+ Edgar D. Mitchell : phi công module Mặt Trăng (lunar module). Module Mặt Trăng của Apollo-14 có tên gọi là Antares.


Ảnh: Phù hiệu Apollo-14


Ảnh: Phi hành đoàn Apollo-14

Được phóng lên không gian ngày 31/01/1971, Apollo-14 mất gần 5 ngày để bay đến Mặt Trăng. Shepard và Mitchell đã sử dụng module Mặt Trăng thực hiện quá trình đổ bộ, trong khi đó Roosa vẫn tiếp tục lái module điều khiển bay xung quanh vệ tinh này. 9 giờ 18 phút ngày 05/02/1971, module Mặt Trăng đổ bộ thành công xuống đồi Fra Mauro (Fra Mauro formation) tại bề mặt nhìn thấy của Mặt Trăng. Với thành công này, Shepard và Mitchell trở thành người thứ 5 và thứ 6 đặt chân lên Mặt Trăng.

Shepard và Roosa đã 2 lần thực hiện các hoạt động ngoài phi thuyền (EVA) với thời gian tổng cộng là 9 tiếng 22 phút. Họ đã thu thập được khoảng 42.28 kg đất đá và tiến hành một số thí nghiệm trên bề mặt Mặt Trăng. Trong thời gian này, Roosa cũng đã tiến hành chụp ảnh Mặt Trăng từ trên quỹ đạo. Trước khi rời khỏi Mặt Trăng, Shepard đã thực hiện tổng cộng 6 lần đánh golf, trong đó có 1 cú đánh thành công, bóng bay vào 1 crater cách đó 10 mét, Mitchell cũng ném 1 cây lao "tự chế". Roosar cũng đã mang theo trong chuyến bay này hàng trăm hạt giống cây trồng. Sau đó, những hạt cây đã được gieo và trồng trên nhiều vùng của nước Mỹ, cũng như ở một số nước khác (Nhật, Bản, Braxin, …) với mục đích quảng bá hàng không vũ trụ ra cộng đồng. Chúng được gọi là các “cây mặt trăng” (moon tree).

18h48 (UTC) ngày 06/02, Shephard và Mitchell sử dụng module Mặt Trăng bay lên kết nối với module điều khiển. Ngày 09/02, phi hành đoàn đã hạ cánh xuống Thái Bình Dương, kết thúc thành công nhiệm vụ Apollo-14.


Ảnh: Shepard và cú đánh golf thứ 3 trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]. Today in Science History, 1999 – 2010. FEBRUARY 5 - BIRTHS, DEATHS, EVENTS, http://www.todayinsci.com/2/2_05.htm
[2]. Wikipedia, 11/2009. Apollo 14, http://en.wikipedia.org/wiki/Apollo_14

Trần Tuấn Tú
Vietastro.org

Ngày này năm xưa