Ngày mất nhà thiên văn học Hoa Kỳ Clyde W. Tombaugh (4/2/1906 – 17/1/1997)[1]. Đam mê thiên văn từ thưở nhỏ, năm 1927, Tombaugh đã tự chế tạo một chiếc kính thiên văn phản xạ bằng những bộ phận lấy ra từ xe ô tô và máy móc hỏng tại trang trại gia đình. Với chiếc kính tự chế, Tombaugh nghiên cứu Sao Hỏa và Sao Mộc. Ông gửi những kết quả quan sát của mình đến đài thiên văn Lowell với mong muốn nhận được thêm các hướng dẫn. Năm 1929, Tombaugh được nhận vào làm việc tại đài thiên văn Lowell. Tại đây, ông đã có được khám phá vĩ đại nhất trong cuộc đời mình: tìm ra Sao Diêm Vương (năm 1930).[2]

 


Ảnh: Tombaugh và chiếc kính thiên văn tự chế

 

Trong sự nghiệp của mình, Tombaugh đã tìm ra 1 hành tinh, 14 tiểu hành tinh [3], 1 sao chổi, 5 open cluster, 1 globular cluster, 1 supercluster, 1 supernova [2].

Ngày 24/8/2006, IAU đã quyết định xếp loại Sao Diêm Vương vào nhóm hành tinh lùn (dwarf planet). Trước quyết định này, vợ ông là Patricia đã khẳng định: « nếu còn sống, chắc Clyde cũng sẽ bằng lòng với quyết định này của IAU vì ông là một nhà khoa học, ông hiểu được những vấn đề mà thiên văn học gặp phải khi khám phá ra những thiên thể mới»
(She notes that Clyde "was a scientist. He would understand they had a real problem when they start finding several of these things flying around the place.")[3]

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. January 17 - Births, Deaths, Eventshttp://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_17.htm
[2] VIC WINTER-JEN DUDLEY-ICSTARS ASTRONOMY, INC., 2007. Clyde W. Tombaugh 1906 – 1997, http://www.icstars.com/HTML/icstars/graphics/clyde.htm
[3] Wikipedia, 1/2007. [b]Clyde Tombaugh, http://en.wikipedia.org/wiki/Clyde_Tombaugh
Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày sinh nhà thiên văn học người Đức Johann Elert Bode (19/01/1747 – 23/11/1826)[1]. Ông từng giữ nhiệm vụ giám đốc đài thiên văn Berlin trong hơn 40 năm, thành viên viện hàm lâm Berlin. [2]



Ảnh: Johann Elert Bode (19/01/1747 – 23/11/1826)

 

Bode là người phát hiện đầu tiên của nhiều thiên hà và tinh vân: M81, M82 (31/12/1774), M53 (3/2/1775) và M92 (31/12/1777).[2] Ông cũng giành nhiều thời gian để quan sát và tính toán quỹ đạo của các sao chổi.

Bode là người phát triển và góp phần công bố « quy luật Titius - Bode » về khoảng cách của các hành tinh đối với Mặt Trời. Quy luật Titius – Bode thực sự đã là công cụ được rất nhiều nhà thiên văn sử dụng trong thế kỷ 18, 19 để tìm kiếm các hành tinh và tiểu hành tinh.

Tháng 3 năm 1781, William Herschel phát hiện ra Sao Thiên Vương và đề nghị đặt tên hành tinh này là « Ngôi Sao George » (nhằm tôn vinh vua Goerge III nước Anh). Chính Bode là người đề nghị gọi hành tinh thứ 7 này là Sao Thiên Vương (Uranus).[2]

Năm 1801, Bode xuất bản Uranographia, một trong những bản đồ sao đầu tiên đánh dấu các ngôi sao dựa trên sự quan sát của con người chứ không phụ thuộc vào hình tượng của chòm sao [1]. Bode cũng là người phân định và đặt tên cho một số chòm sao như: "Officina Typographica," "Apparatus Chemica," "Globus Aerostaticus," "Honores Frederici," "Felis," "Custos Messium", "Quadrans Muralis," ... Tuy nhiên, tất cả các chòm sao trên đều không có tên trong danh sách 88 chòm sao hiện đại.[2]

Tên của ông được dùng để đặt cho một tiểu hành tinh (Asteroid 998, Bodea), 1 crater trên Mặt Trăng. Thiên hà M 81 cũng được gọi là Bode“s Galaxy hoặc Bode“s Nebulae[2]


Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. January 19 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_19.htm
[2]. Hartmut Frommert, Christine Kronberg,. Johann Elert Bode (January 19, 1747 - November 23, 1826), http://www.seds.org/messier/Xtra/Bios/bode.html
Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày sinh Edwin Eugene Aldrin (Buzz Aldrin), phi công vũ trụ Hoa Kỳ (20/1/1930) [1]. Aldrin là người thứ 2 đặt chân lên Mặt Trăng trong chuyến bay thành công của tàu Apollo 11 năm 1969.


Ảnh: Edwin Eugene Aldrin, Jr.

 

Edwin Aldrin tốt nghiệp cử nhân khoa học tại Học viện Quân sự Hoa Kỳ, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Hàng không Vũ trụ tại học viện MIT. Luận án của ông nghiên cứu về «Dẫn đường cho các chuyến bay khứ hồi có người lái trên quỹ đạo» (Guidance for Manned Orbital Rendezvous). Trước khi làm việc cho NASA, Aldrin là phi công tiêm kích của US Airforce và đã tham gia chiến tranh Triều Tiên.[2]

Tháng 11 năm 1966, cùng với James Lovell, Aldrin đã thực hiện thành công chuyến bay 4 ngày ngoài không gian trên tàu vũ trụ Gemini 12. Trong chuyến bay này, Aldrin đã thực hiện quá trình hoạt động ngoài không gian (Extravehicular activity) trong vòng 5h30m.[2]

Ngày 10 tháng 7 năm 1969, Aldrin và Niel Armstrong đã đổ bộ thành công xuống Mặt Trăng trên module Eagle của tàu Apollo 11. Aldrin là người thứ 2 đặt chân lên Mặt Trăng, hoạt động trên bề mặt thiên thể này trong vòng 2h15m.[2]

Tính đến nay, Aldrin đã có tổng cộng 289 giờ, 53 phút bay trên vũ trụ, trong đó có 7 giờ 52 phút giành cho các hoạt động bên ngoài không gian. Aldrin là tác giả của cuốn hồi ký «Trở về Trái Đất» (Return to Earth) và tác phẩm «Con người trên Trái Đất» (Men on Earth) viết về chương trình Apollo. [2]

 


Ảnh: Aldrin trên Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. January 20 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_20.htm
[2]. NASA, 01/1996. Astronaut Bio: Buzz Aldrin, http://www.jsc.nasa.gov/Bios/htmlbios/aldrin-b.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày sinh nhà vật lý thiên văn Đan Mạch Bengt Georg Daniel Strömgren (21/01/1908 – 04/07/1987).[1]

Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về cơ học thiên thể. Tuy nhiên, lĩnh vực được Strömgren quan tâm đặc biệt đó là lý thuyết về các đám mây khí ion hóa xung quanh các ngôi sao có nhiệt độ cao. Ông nhiên cứu về các vùng H II, khu vực trong vũ trụ mà hydro tồn tại phổ biến dưới dạng ion hóa (A volume of space where the hydrogen in the interstellar medium is in an ionized rather than a neutral state). Strömgren đã tìm ra mối quan hệ giữa mật độ khí, độ trưng của ngôi sao và kích thước của « mặt cầu Strömgren » tương ứng với các khí hydro bị ion hóa xung quanh ngôi sao. [2]


Ảnh: Bengt Strömgren (21/01/1908 – 04/07/1987)

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. January 21 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_21.htm
[2] JST, 2006-02-25. The Bruce Medalists, Bengt Georg Daniel Strömgren, http://www.phys-astro.sonoma.edu/BruceMedalists/Stromgren/index.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 23 tháng 1 năm 2004, Jay McNeil, một nhà thiên văn nghiệp dư người Mỹ đã khám phá ra một tinh vân mới trong chòm sao Orion[1, trang 24]. Tinh vân này đã đươc đặt tên là «Tinh vân McNeil» (McNeil“s Nebula).


Ảnh: Vị trí tinh vân McNeil
Điều đáng ngạc nhiên là McNeil phát hiện ra tinh vân mới này dựa trên việc phân tích các bức ảnh chụp từ chiếc kính thiên văn nghiệp dư có đường kính chỉ 3 inch. Hơn nữa, trong thời đại khoa học kỹ thuật ngày nay, khi bầu trời được quan sát bởi hàng chục, hàng trăm kính viễn vọng khổng lồ, trên cả mặt đất lẫn trong không gian, phát hiện của McNeil quả là rất đáng trân trọng.[2] Phát hiện này cổ vũ tất cả những người yêu thích thiên văn học: «bầu trời, vũ trụ còn rất nhiều bí ẩn đang chờ con người khám phá, không nhất thiết phải là nhà thiên văn chuyên nghiệp, bạn vẫn có thể đóng góp cho Thiên văn học».

 

Ảnh: Jay McNeil

 

Tài liệu tham khảo:
[1]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]. Robert Roy Britt, 23/02/2004. Amateur Finds New Nebula with Small Telescope[/b], http://www.space.com/scienceastronomy/mystery_monday_040223.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Các nghiên cứu của ông tập trung vào từ trường của Mặt Trời và các ngôi sao. Năm 1951, cùng với con trai là Horace W. Babcock, ông đã phát minh ra từ ký Mặt Trời (solar magnetograph). Thiết bị đo này không chỉ cho phép ông có được những kết quả rất chính xác về sự phân bố của từ trường trên Mặt Trời mà còn giúp phát hiện ra sự biến đổi từ trường của những ngôi sao khác trong vũ trụ [1]. Năm 1961, ông đã giải thích sự xuất hiện của các vết đen là bắt nguồn từ chuyển động vi sai và sự biến thiên từ trường của Mặt Trời. [2, trang 25]


Ảnh: Harold Babcock (24/01/1882 – 08/04/1968)

 

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. January 24 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/cgi-bin/indexpage.pl?http://www.todayinsci.com/1/1_24.htm
[2]. Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Những công trình toán học của Langrange có ảnh hưởng rất nhiều đến lĩnh vực cơ học thiên thể. Ông đã dùng toán học chứng minh tính bền vững của hệ Mặt Trời, chỉ ra các điểm Lagrange (Lagrangian Points). Giả sử ta có 2 vật khối lượng lớn, và một vật khối lượng nhỏ hơn hẳn hai vật đó, trong không gian sẽ tồn tại 5 điểm mà ở đó vật khối lượng nhỏ sẽ luôn duy trì vị trí tương đối so với 2 vật khối lượng lớn.[2]


Ảnh: Joseph-Louis Lagrange (25/01/1736 – 10/04/1813) [1, trang 26]

Một trong những ví dụ minh họa nổi tiếng nhất về điểm Lagrange đó là vị trí tương đối của Sao Mộc, Mặt Trời và tiểu hành tinh Asin. Quỹ đạo của Asin gần giống với quỹ đạo của Sao Mộc, tuy vậy, nó chẳng bao giờ đụng độ với Sao Mộc, bởi vì nó cách xa vị trí của Sao Mộc trên quỹ đạo hơn 650 triệu km, và nó luôn chuyển động với vận tốc bằng tốc độ của Sao Mộc cho nên nó cứ nằm cách Sao Mộc 650 triệu km.[3, trang 155]

Nếu ta vẽ một đường xuất phát từ Mặt Trời tới Sao Mộc rồi kéo tới tiểu hành tinh Asin và quay trở lại Mặt Trời, thì sẽ được một tam giác đều. Lagrange đã chứng minh rằng một vị trí như vậy sẽ bền vững, cho nên những thiên thể cứ ở mãi các đỉnh của một tam giác đều tuy chúng vẫn chuyển động [3, trang 156]. Tại các điểm Langrange L4 và L5 của hệ Sao Mộc – Mặt Trời, người ta đã phát hiện ra nhiều tiểun hành tinh và được gọi là các hành tinh thành Troy (Các tiểu hành tinh này được đặt tên theo các nhân vật trong trận chiến thành Troy như: Asin, Ajax, Hector, Priams, ...)


Ảnh: Các hành tinh thành Troy
Tài liệu tham khảo:
[1]Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2].JOC/EFR © January 1999. Joseph-Louis Lagrange, http://www-history.mcs.st-andrews.ac.uk/Biographies/Lagrange.html
[3]. Isaac Asimov, 1966. Hệ Mặt Trời, người dịch Đắc Lê, NXB Khoa Học và Kỹ Thuật, 1980)

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ranger 3 là tàu thăm dò đầu tiên thuộc thế hệ thứ hai của dự án Ranger (dự án thám hiểm Mặt Trăng bằng thiết bị không người lái của Hoa Kỳ). NASA đã rất kỳ vọng vào các Ranger thế hệ 2 này với việc triển khai nhiều thiết bị đo đạc và module đổ bộ[1]. Các Ranger 3, 4 và 5 dự kiến sẽ bay đến, chụp ảnh và thả module đổ bộ xuống Mặt Trăng. Module đổ bộ chứa máy đo địa chấn sẽ hạ cánh mềm bằng phản lực để có thể tiếp tục hoạt động trên Mặt Trăng.

Ảnh: Ranger 3 [1].

 

Ranger 3 có khối lượng: 327 kg, hệ thống tên lửa đẩy: Atlas LV-3A/Agena B. Do hệ thống dẫn của tên lửa Agena B hoạt động sai nên Ranger 3 bay chệch khỏi Mặt Trăng với khoảng cách 36874 km và tiếp tục bay trên một quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. [1]

 


Ảnh: Tên lửa Atlas LV3/Agena B

 

Trong quá trình bay qua, Ranger 3 đã thực hiện được một số khảo sát tại vùng tia gamma đối với bề mặt Mặt Trăng. Tuy nhiên, quan trọng nhất là những kết quả khảo sát của Ranger 3 đối với cường độ tia gamma trong môi trường vũ trụ. Cường độ của tia gamma trong môi trường vũ trụ mạnh gấp khoảng 10 lần các nhà khoa học dự tính, từ đó cần phải nâng cấp các thiết bị bảo vệ cho những tàu vũ trụ có người lái.[1]

Sau Ranger 3, cả Ranger 4 và 5 đều không đạt được các nhiệm vụ theo thiết kế ban đầu. Điều này dẫn đến việc NASA thiết kế các Ranger thế hệ 3 đơn giản hơn, chỉ bay đến Mặt Trăng và chụp ảnh (Ranger 7 là Ranger đầu tiên hoàn thành mục tiêu đặt ra). Sau dự án Ranger, NASA triển khai song song hai dự án thám hiểm Mặt Trăng:
+ Lunar Orbiter hoạt động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trăng và chụp ảnh
+ Surveyor: thử nghiệm hạ cánh mềm xuống Mặt Trăng

Tài liệu tham khảo:
[1]. Mark Wade, 1997 – 2007. Ranger 3-4-5[/b], [i]http://www.astronautix.com/craft/raner345.htm

Hero_Zeratul
ttvnol.com

Ngày 27/01/1967, tai nạn đã xảy ra trong quá trình vận hành thử nghiệm hệ thống Apollo/Sarturn 204 (AS – 204). Hỏa hoạn đã xảy ra trong khoang điều khiển (Command Module) gây ra cái chết của 3 phi công vũ trụ Virgil I. Grissom, Edward H. White và Roger B. Chaffee [1, trang 28]. Theo kế hoạch, AS – 204 và 3 phi công vũ trụ sẽ bay vào không gian, thực hiện nhiệm vụ đầu tiên của chương trình Apollo thám hiểm Mặt Trăng. Sau tai nạn trên, NASA đã quyết định truy tặng danh hiệu «Apollo 1» cho hệ thống và phi hành đoàn.


Ảnh: Grissom, White và Chaffee

Sau sự cố này, hàng loạt thay đổi đã được thực hiện đối với cấu trúc module điều khiển của các tàu Apollo: cấu tạo thay đổi theo hướng nâng cao khả năng thoát hiểm đối với người bên trong; thành phần không khí ban đầu chuyển thành 60% oxy và 40 % nitơ; các vật liệu dễ cháy hoàn toàn bị thay thế; bộ quần áo phi hành và các thiết bị thông tin cũng được cải tiến.[2]

Tài liệu tham khảo:
[1]Tammy Plotner, 2007. What is up 2007, 365 days of skywatching, http://www.astrowhatsup.com/download-the-book/
[2]Steve Garber, NASA History Web Curator , update 01/2007. NASA Apollo Mission Apollo-1, http://history.nasa.gov/Apollo204/

Hero_Zeratul
ttvnol.com

16h38 phút GMT ngày 28/01/1986, tàu con thoi Challenger đã gặp tai nạn chỉ 73 giây sau khi phóng, gây ra cái chết của 7 nhà du hành vũ trụ Hoa Kỳ. Nguyên nhân tai nạn được xác định là do vết hàn ở khoang nhiên liệu rắn bên phải của tên lửa đẩy bị thủng. [1]

 


Ảnh: Tai nạn tàu Challenger

 

Đây là chuyến bay thứ 25 của tàu Challenger với nhiệm vụ triển khai 1 số thiết quan sát lên quỹ đạo , phóng thiết bị theo dõi sao chổi Halley và thực hiện 1 số thí nghiệm trong vũ trụ. 7 nhà du hành hy sinh trong tai nạn này là:

+ Francis R. Scobee: Commander
+ Michael J. Smith: Pilot
+ Judith A. Resnik: Mission Specialist 1
+ Ellison S. Onizuka: Mission Specialist 2
+ Ronald E. McNair: Mission Specialist 3
+ Gregory B. Jarvis: Payload Specialist 1
+ Sharon Christa McAuliffe: Payload Specialist 2

 


Ảnh: Phi hành đoàn tàu Challenger gặp nạn

«...
Yet the gods do not give lightly of the powers they have made,
And with Challenger and seven, once again the price is paid
Though a nation watched her falling, yet a world could only cry,
As they passed from us to glory,
Riding fire in the sky!
...» [2]


« ...
Những vị thần không bằng lòng khi con người thách thức các thế lực siêu nhiên,
Tàu Challenger và bảy nhà du hành đã hy sinh trên con đường chinh phục.
Cả nhân loại nhìn thấy họ lâm nguy,
Nhưng chẳng thể làm gì, ngoài việc rơi nước mắt.
Vĩnh biệt chúng ta, họ đi vào lịch sử,
Theo ngọn lửa cháy, họ bay vào trời xanh.
... »


Tài liệu tham khảo:
1. Kenedy Space Center, 2001. 51-L (25), http://science.ksc.nasa.gov/shuttle/missions/51-l/mission-51-l.html
[2]. Jordin Kare, Kristoph Klover. Fire in the sky, http://thienvanbachkhoa.org/news/home/phim-am-nhac-clip-thien-van/1162-fire-in-the-sky.html

Hero_Zeratul
ttvnol.com