Dirk Brouwer sinh ra ở Rotterdam, thành phố phía nam Hà Lan. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ năm 1927 tại đại học Leiden, Brouwer chuyển đến làm việc tại đại học Yale. Lĩnh vực chủ yếu của Brouwer là cơ học thiên thể.

Được phóng đi từ ngày 09/09/1975, tàu Viking-2 đã mất tổng cộng 333 ngày để bay đến Sao Hỏa. Đây là 1 trong hai tàu vũ trụ thuộc chương trình Viking thăm dò Sao Hỏa của NASA. Mỗi tàu Viking bao gồm 2 thành phần chính:

- Module Lander (đổ bộ): hạ cánh xuống Sao Hỏa, tiến hành các thí nghiệm sinh, hóa, ... chụp ảnh và nghiên cứu các đặc điểm về bề mặt, khí hậu, địa chấn, từ trường, ...
- Module Orbiter : có nhiệm vụ chở module Lander đến Sao Hỏa, tiếp tục chuyển động và tiến hành các khảo sát trên quỹ đạo xung quanh hành tinh, đóng vai trò trạm trung chuyển tín hiệu từ module Lander về Trái Đất.


Module Lander của Viking-2 [1]

Sau khi rời khỏi Orbiter, Lander sử dụng dù và tên lửa hãm để đổ bộ xuống bề mặt Sao Hỏa. Tổng cộng Lander của Viking-2 đã hoạt động được 1281 ngày Sao Hỏa. Ngày 11/04/1980, Lander đã chấm dứt hoạt động do hệ thống pin bị hỏng. Trước đó, Orbiter cũng đã chấm dứt hoạt động vào ngày 25/07/1978 do hệ thống tên lửa đẩy hết nhiên liệu.[2]


Tàu vũ trụ Viking-2 (bao gồm module Lander gắn vào phía dưới của module Orbiter)

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 3 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_03.htm
[2]Wikipedia, 08/2007. Viking 2, http://en.wikipedia.org/wiki/Viking_2

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

César-François, con trai của Jacques Cassini, cháu nội của Giovanni Domenico Cassini, là đại diện cho thế hệ thứ 3 của dòng họ Cassini nhiều đời nghiên cứu về thiên văn học và xây dựng bản đồ nước Pháp. Mặc dù đảm nhiệm chức vụ giám đốc đài thiên văn Paris trong từ năm 1756 cho đến khi qua đời nhưng các công trình về thiên văn học của César-François Cassini không nổi bật bằng những thành quả đạt được trong lĩnh vực địa lý. Ông đã tham gia vào dự án vẽ bản đồ nước Pháp do cha ông chỉ đạo từ khi còn rất trẻ và thu được các kết quả rất xuất sắc. Năm 19 tuổi, César-François Cassini đã là thành viên của viện Hàn lâm Khoa học [2]


César-François Cassini de Thury (17/06/1714 – 04/09/1784) [1]

Những công trình về địa lý của César-François góp phần khẳng định những tiên đoán của Newton về hình dạng bẹt của Trái Đất tại hai cực. Ông được coi là người đã hoàn thành cơ bản dự án lập bản đồ lãnh thổ nước Pháp đã được bắt đầu từ những năm 1670 bởi Giovanni Domenico Cassini. César-François đã kế tục và hoàn thành 180 trang bản đồ với tỷ lệ 1:86400. Sau này, con ông là Dominique Cassini đã hoàn thành nốt 2 trang còn lại, kết thúc dự án kéo dài hơn 100 năm, thực hiện bởi 4 thế hệ trong gia tộc [2]

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 4 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_04.htm
[2]JOC/EFR, 04/2003. César-François Cassini de Thury, http://www-history.mcs.st-andrews.ac.uk/Biographies/Cassini_de_Thury.html

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Andrian Nikolayev sinh ra ở Shorshely, Chuvashia, liên bang Nga. Ban đầu, Nikolayev làm kiểm lâm tại Karelia cho đến năm 1950 thì gia nhập Hồng quân. Năm 1954, ông hoàn thành khóa huấn luyện phi công và biên chế vào lực lượng không quân đóng ở Moscow. Năm 1960, ông được lựa chọn và trở thành một trong 20 phi công vũ trụ đầu tiên của Liên Xô.


Ảnh: Andrian Grigoryevich Nikolayev (05/09/1929 – 03/07/2004) [1]

Ngày 11/08/1962, Nikolayev đã bay lên không gian trên tàu Vostok-3. Ông đã lập kỷ lục mới về thời gian làm việc của con người trong không gian với 3 ngày 22 giờ 22 phút. Ngày 03/11/1963, ông đã kết hôn với Valentina Tereshkova, người phụ nữ đầu tiên bay lên vũ trụ. Tuy nhiên, họ đã ly dị vào năm 1982. Năm 1970, cùng với Vitali Sevastyanov, Nikolayev đã bay lên không gian lần thứ 2 trên tàu Soyuz-9. Nhiệm vụ chính của chuyến bay này là kiểm tra khả năng làm việc dài hạn của các nhà du hành vũ trụ, chuẩn bị cho việc đưa vào vận hành các trạm không gian. Chuyến bay kéo dài 17 ngày 15 giờ 58 phút và 1 kỷ lục mới về thời gian làm việc ngoài không gian của con người đã lại được thiết lập bởi Nikolayev.


Ảnh: Nikolayev, Tereshkova và con gái

Từ năm 1968 đến năm 1974, Nikolayev là quyền giám đốc đào tạo của trung tâm Phi công Vũ trụ Yuri Gagarin. Sau đó ông được bổ nhiệm làm giám đốc đào tạo và đảm nhiệm chức vụ này cho đến năm 1982. Quân hàm cao nhất của ông trong quân đội Xô Viết là thiếu tướng không quân.

Nikolayev 2 lần được phong tặng danh hiệu «Anh hùng Liên Xô», được trao tặng rất nhiều huân, huy chương, trong đó có huân chương Lenin, huân chương Sao Đỏ. Ông cũng đã được 1 số nước khác như: Việt Nam, Bulgari, Mông Cổ phong danh hiệu «anh hùng». Ông là tác giả của 2 tác phẩm: Vstretimsya na orbite (Gặp nhau trên quỹ đạo) và Kosmos - doroga byez kontsa (Không gian – Con đường bất tận). Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]Mark Wade , 1997 - 2007 . Encyclopedia Astronautica, Nikolayev, http://www.astronautix.com/astros/niklayev.htm

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Horace Welcome Babcock sinh ra ở Pasadena, California, Hoa Kỳ. Năm 1934, H.Babcock tốt nghiệp học viện Kỹ thuật California. Năm 1939, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại đại học California, Berkeley.

Từ năm 1939 đến năm 1941, H.Babcock tham gia nghiên cứu tại đài thiên văn Yerkes và đài thiên văn McDonald. Tháng 9/1941, ông gia nhập nhóm nghiên cứu phát triển radar tại học viện MIT. Năm 1944, ông tham gia dự án phát triển tên lửa học viện Kỹ thuật California. Thế chiến thứ 2 kết thúc, năm 1946, H.Babcock chuyển đến đài thiên văn Mt. Wilson (sau này đổi tên thành đài thiên văn Mt. Wilson và Palomar). Tại đây, ông đã tiến hành nhiều nghiên cứu cùng với cha mình (nhà thiên văn Harold Delos Babcock). Năm 1951, hai cha con ông đã phát minh ra từ ký Mặt Trời (solar magnetograph). Thiết bị đo này không chỉ cho phép ông thu được những kết quả rất chính xác về sự phân bố của từ trường trên Mặt Trời mà còn giúp phát hiện ra sự biến đổi từ trường của những ngôi sao khác trong vũ trụ. H.Babcock còn phát minh ra nhiều thiết bị, dụng cụ sử dụng trong thiên văn học hiện đại. Năm 1961, ông đã xây dựng lên mô hình giải thích sự xuất hiện các vết đen trên bề mặt Mặt Trời: Babcock model (*)


Ảnh: Horace Welcome Babcock (13/09/1912 – 19/08/2003)

Từ năm 1964 đến năm 1978, ông đảm nhiệm chức vụ giám đốc đài thien văn Mt.Wilson và Palomar. Trong thời gian này, ông đã tham gia việc xây dựng đài thiên văn Las Campanas tại Chile.

Tiểu hành tinh thứ 3167 (asteroid 3167) đã được đặt tên là Babcock để vinh danh cha con ông.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 13 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_13.htm
[2]JST, 2006-02-25. The Bruce Medalists, Horace Welcome Babcock, http://www.phys-astro.sonoma.edu/BruceMedalists/BabcockHW/index.html

(*): Trong bài viết tương ứng với ngày 24/01 về tiểu sử nhà thiên văn Harold D. Babcock, dựa trên thông tin trong tài liệu «What is up 2007, 365 days of skywatching” của Tammy Plotner, tôi đã viết “Năm 1961, ông (tức Harold. D. Babcock) đã giải thích sự xuất hiện của các vết đen là bắt nguồn từ chuyển động vi sai và sự biến thiên từ trường của Mặt Trời” .

Tuy nhiên, dựa trên những tài liệu viết về Horace W. Babcock, đặc biệt là so sánh tiểu sử tóm tắt của hai cha con ông trên website của Khoa Vật lý và Thiên văn, đại học Somona (giới thiệu những nhà thiên văn được trao tặng huy chương Bruce), có thể khẳng định rằng tác giả Tammy Plotner đã có nhầm lẫn. Người đưa mô hình giải thích sự xuất hiện các vết đen Mặt Trời năm 1961 là Horace W. Babcock

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ngày 14/09/1959, tàu vũ trụ Luna-2 của Liên Xô đã đâm xuống bề mặt Mặt Trăng. Đây là tàu vũ trụ đầu tiên đến được Mặt Trăng.


Ảnh: Luna-2

Luna-2 được phóng đi từ ngày 12/09/1959 (theo giờ Mat-xcơ-va thì là ngày 13/09). Trong hành trình bay đến Mặt Trăng, Luna-2 đã phát hiện ra những bằng chứng đầu tiên về gió Mặt Trời. Tàu thăm dò cũng đã phát hiện sự biến thiên của các luồng electron, góp phần khẳng định sự tồn tại của vành đai Van Allen bao quanh Trái Đất.

Sau 33.5 tiếng hành trình, Luna-2 đã đâm xuống Mặt Trăng, kết thúc thành công nhiệm vụ theo kế hoạch đặt ra. Các kết quả đo đạc của Luna-2 cho thấy từ trường của Mặt Trăng rất yếu và không có vành đai các hạt mang điện bao quanh vệ tinh này.

Tài liệu tham khảo:

[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 14 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_14.htm
[2]Wikipedia, 09/2007. Luna 2, http://en.wikipedia.org/wiki/Luna_2

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Jean Syslvain Bailly sinh ra ở Paris, con trai của một họa sĩ hoàng gia. Ban đầu, ông cũng nối nghiệp cha trở thành một họa sĩ, đồng thời là một nhà viết kịch. Niềm đam mê khoa học của ông đã được khơi dậy bởi Nicolas de Lacaille. Bailly đã tiến hành tính toán lại qũy đạo của sao chổi Halley trong lần xuất hiện vào năm 1759. Ông tinh chỉnh và rút gọn danh mục bao gồm 515 ngôi sao hoàng đạo của de Lacaille. Bailly đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vệ tinh Sao Mộc. Ông cũng là tác giả của rất nhiều tác phẩm nổi tiếng thuộc lĩnh vực lịch sử khoa học như: Histoire de l''astronomie ancienne (Lịch sử Thiên văn học cổ, xuất bản năm 1775); Histoire de l''astronomie moderne (Lịch sử Thiên văn học hiện đại, 3 tập, xuất bản trong giai đoạn 1779 - 1782); Traite de l''astronomie indienne et orientale (Chuyên luận về thiên văn học Ấn Độ và Phương Đông, xuất bản năm 1787), ....

Ảnh: Jean Sylvain Bailly (15/09/1736 – 12/11/1793)

Cách mạng Pháp nổ ra, Bailly được bầu làm chủ tịch của Đảng phái thứ 3 (đảng của những người không thuộc tầng lớp quý tộc hay tăng lữ, đại diện cho giai cấp tư sản, nông dân và công nhân). Sau sự kiện phá ngục Bastille ngày 14/07/1789, Bailly được bầu làm thị trưởng đầu tiên của Paris. Ngày 17/07/1791, đám đông tập trung ở quảng trường Champ de Mars để tiến hành lấy chữ ký cho bản kiến nghị đòi phế truất vua Louis XVI. Xung đột đã nổ ra dẫn tới việc vệ binh quốc gia bắn thẳng vào đám đông. Sau sự kiện này, Bailly đã không còn được ủng hộ như trước. Ông đã từ chức thị trưởng vào ngày 18/11/1791, lui về sống ở Nantes. Tuy nhiên, đến tháng 10/1793, trong 1 giai đoạn mà sau này lịch sử ghi lại là “Reign of Terror” (giai đoạn thống trị kinh hoàng) ông bị bắt và bị đưa về Paris xét xử. Ngày 12/11/1793, Bailly đã bị đưa lên máy chém.

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 15 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_15.htm
[2]Wikipedia, 09/2007. Jeans Sylvain Bailly, http://en.wikipedia.org/wiki/Jean-Sylvain_Bailly

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

James Jeans sinh ra ở Lancashire, tây bắc nước Anh. Năm 1898, ông tốt nghiệp đại học Cambridge và ở lại trường tham gia công tác giảng dạy. Năm 1904, ông chuyển đến đại học Princeton, Hoa Kỳ giảng dạy môn toán ứng dụng. Năm 1910, ông quay trở lại trường Cambridge.

Dựa trên những nghiên cứu về vật thể quay, James Jeans đã phủ nhận học thuyết của Laplace về sự hình thành của hệ Mặt Trời từ đám mây khí và bụi. Ông cho rằng, các hành tinh đã được hình thành từ sự cô đọng các vật chất bắn ra từ Mặt Trời do ảnh hưởng của một ngôi sao chuyển động ngang qua. Hiện nay, lý thuyết này của James Jeans đã không còn được chấp nhận. Ông cũng là người đầu tiên đưa ra giả thiết về một vũ trụ ổn định, dựa trên giả thuyết về sự sinh ra liên tục của vật chất. Tuy nhiên, giả thiết này đã bị bác bỏ bởi sự khám phá ra bức xạ phông vũ trụ (cosmic microwave background) năm 1965.


Ảnh: Sir James Hopwood Jeans (11/09/1877 - 16/09/1946)

James Jeans đã tìm ra công thức tính bán kính tới hạn của các đám mây khí và bụi trong vũ trụ dựa trên nhiệt độ, mật độ và khối lượng của các hạt vật chất. Bán kính này được gọi là “Jeans length” (độ dài Jeans). Nếu một đám mây khí và bụi có bán kính nhỏ hơn “Jeans length”, quá trình hình thành sao sẽ không thể xảy ra (và ngược lại)

James Jeans là tác giả của rất nhiều tác phẩm chuyên khảo hoặc phổ biến kiến thức như: The Stars in Their Courses (Những ngôi sao trong quá trình phát triển, xuất bản năm 1931), The New Background of Science (Những nền tảng của khoa học hiện đại, xuất bản năm 1933); The Universe Around Us (Vũ trụ quanh ta, xuất bản năm 1934), Through Space and Time (Xuyên qua không gian và thời gian, xuất bản năm 1934), The Mysterious Universe (Vũ trụ bí ẩn), Physic and Philosophy (Vật lý và Triết học), ...

Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hỏa.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 16 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_16.htm
[2]Wikipedia, 08/2007. James Hopwood Jeans, http://en.wikipedia.org/wiki/Sir_James_Jeans

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com

Ngày sinh nhà khoa học không gian Liên Xô Konstantin Eduardovich Tsiolkovsky (17/09/1857 – 19/09/1935). Tsiolkovsky cùng với Hermann Julius Oberth và Robert Hutchings Goddard được thế giới vinh danh là "cha đẻ của ngành hàng không vũ trụ".

Tsiolkovsky sinh ra ở làng Ijevskoe, tỉnh Ryasan, thuộc phía tây liên bang Nga. Cha ông, Edward Ciolkowski, là một người Ba Lan nhập cư; mẹ ông, Maria Yumasheva, là một người Nga. Năm 10 tuổi, Tsiolkovsky bị sốt phát ban và suy giảm nghiêm trọng thính lực. Vì lý do đó, ông đã không được chấp nhận đến trường phổ thông và phải tự học ở nhà. Ông đã đọc mọi cuốn sách trong thư viện gia đình và luôn nỗ lực vươn lên tự khẳng định mình, vượt qua sự thiệt thòi mà bản thân phải chịu đựng.


Ảnh: Konstantin Eduardovich Tsiolkovsky (17/09/1857 – 19/09/1935)

Trong thời gian từ năm 1873 đến 1876, Tsiolkovsky sống ở Mat-xcơ-va. Ông thường xuyên đến đọc sách tại thư viện chính của thành phố. Tại đây, ông đã được triết gia nổi tiếng Nikolai Fedorovitch Fedorov hướng dẫn và chỉ dạy. Fedorov cũng đã tìm cho Tsiolkovsky một việc làm ở thư viện, tạo điều kiện cho ông được nghiên cứu, tự học những bài giảng của trường đại học. Ở vào tuổi 17, trong tâm trí Tsiolkovsky đã bắt đầu nảy sinh những ý tưởng đầu tiên về các chuyến bay chinh phục không gian, về việc đưa con người ra sống và làm việc ngoài vũ trụ. Năm 1876, Tsiolkovsky trở về quê nhà và thi lấy chứng chỉ giáo viên. Ông dạy toán tại một trường trung học ở Borovsk, tỉnh Kaluga. Tại đây, ông đã bắt đầu những nghiên cứu khoa học đầu tiên thuộc về nhiều lĩnh vực như: chế tạo khinh khí cầu, sống và làm việc ngoài không gian, hàng không vũ trụ và triết học. Năm 1892, ông chuyển đến làm việc tại thành phố Kaluga. Tại đây, ông đã viết và xuất bản các học thuyết về hàng không vũ trụ. Năm 1919, ông được bầu làm thành viên viện Hàn lâm Khoa học Xô Viết. Từ năm 1920, chính phủ Xô Viết đã trợ cấp cho các hoạt động khoa học của Tsiolkovsky.

Tsiolkovsky đã có những ý tưởng vượt tầm thời đại. Trong tác phẩm “The Cosmic Philosoply” (“Triết học Vũ trụ”, xuất bản năm 1932) ông đã trình bày về một “niềm hạnh phúc toàn vũ trụ” (universal happiness). Niềm hạnh phúc đó không chỉ của riêng con người trên Trái Đất mà của toàn thể cư dân vũ trụ. Để đạt được “niềm hạnh phúc” đó, một trong những việc chính con người cần thực hiện là “tìm ra các quy luật chi phối vận động của vũ trụ”. Do đó, cần phải bay ra ngoài không gian, học tập và rèn luyện cách sống ngoài không gian để có thể nghiên cứu sâu hơn về vũ trụ. Để làm được điều này, chúng ta cần phải thiết kế những tàu vũ trụ có người điều khiển. Những chuyến bay đưa người lên không gian chính là bước đi đầu tiên của nhân loại trong một thời kỳ dài lâu, góp phần xây dựng lên một “nền văn minh vũ trụ” (cosmic civilization). Năm 1926, ông đã đề xuất “Kế hoạch chinh phục không gian” bao gồm 16 bước, từ việc chế tạo các máy bay phản lực đến quá trình di dân đến những hệ mặt trời khác khi mà Mặt Trời lụi tàn.

Tsiolkovsky đã dùng toán học để chứng minh sự khả thi của các chuyến bay vào không gian. Ông đã thiết kế mô hình của các tên lửa, động cơ tên lửa, tên lửa nhiều tầng, trạm không gian, ... Ông đã tính toán được những ảnh hưởng đối với con người trong quá trình làm việc ngoài không gian, đồng thời đề ra những giải pháp và đưa ra quy trình làm việc của những nhà du hành.

Với hơn 500 công trình và một số tác phẩm kinh điển, Tsiolkovsky đã được cả thế giới biết đến và được công nhận là một trong những người khai sinh ra ngành hàng không vũ trụ. Mặc dù ông không tự chế tạo ra các tên lửa, nhưng các công trình của ông đã là nền tảng, là động lực rất lớn thúc đẩy sự nghiên cứu, sáng tạo của một thế hệ các nhà khoa học không gian Xô Viết kế cận mà tiêu biểu là tổng công trình sư Sergey Korolev.

Tên ông được đặt cho phương trình cơ bản nhất sử dụng để tính toán sự tăng vận tốc của tên lửa, một crater trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh (asteroid 1590 Tsiolkovskaja). Phòng trưng bày của bảo tàng Không gian NASA được bắt đầu bằng chân dung của Tsiolkovsky.


Ảnh: Minh họa các nhà du hành làm việc trong trạng thái không trọng lực (vẽ năm 1932)


Ảnh: Quy trình rời tàu vũ trụ làm việc ngoài không gian (vẽ năm 1932)

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 - 2007. September 17 - Births, Deaths, Events, http://www.todayinsci.com/9/9_17.htm
[2]Konstantin E. Tsiolkovsky State Museum of the History of Cosmonautics, The life of Konstantin Eduardovitch Tsiolkovsky, http://www.informatics.org/museum/tsiol.html

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học - ttvnol.com